Trang chủ > bài viết > Vài nét về chùa làng Thanh Quýt

Vài nét về chùa làng Thanh Quýt

03/06/2016

Vài nét về chùa làng Thanh Quýt

Trương Điện Thắng 

(Nguồn http://truongcongthanhquyt.com/index.php?option=com_content&view=article&id=134&catid=102&Itemid=524)

Làng Thanh Quýt là một làng lớn thuộc Tổng Thanh Quýt Trung. Làng có hai thiết chế văn hóa quan trọng là đình và chùa làng…

Tôi đã viết về đình, nay tiếp tục khảo sát về ngôi chùa làng, một di tích đã bị san bằng sau năm 1975, chỉ còn lại một tấm bia công đức viết bằng chữ Hán vào năm 1869…

I-

Chùa làng Thanh Quýt đã có từ lâu, nhưng cụ thể năm nào thì không ai biết. Trong truyền ngôn tộc Trương Công Thanh Quýt có kể: Ngài tổ thứ 3 ( thuộc phái 3) là Trương Công Trinh xuất gia đi tu và dỡ ngôi nhà rường của mình lên dựng làm ngôi chùa ở đầu làng, cạnh cây đa cổ thụ và bến sông ( sau được gọi là bến Chùa). Như vậy có thể phỏng đoán: Tộc Trương vào định cư ở Thanh Quýt cùng các tộc tiền hiền khác khoảng năm 1560-1600 ( nay đã có 17 đời), như vậy ngài tổ đời thứ 3 thuộc phái 3 sinh khoảng 1670-1700. Theo hậu duệ đời thứ 13 của phái 3, ngài đã có gia đình và 3 con mới đi tu. Vậy, có thể lúc đó đã 30 tuổi. Suy ra, ngôi chùa làng đầu tiên do ngài lập bằng nhà gỗ là khoảng từ 1700- 1730!

Văn bia công đức hiện còn cho biết chùa xây dựng lại bằng gạch ngói vào năm Tự Đức thứ 18 (Ất Sửu, 1865). Ngày 15.9 năm Kỷ Tỵ (1869) dựng bia này. ( Tự Đức nhị thập nhị niên cửu nguyệt thập ngũ nhật).

Như vậy ngôi chùa gỗ dã tồn tại trong khoảng thời gian hơn 130 năm tại cùng vị trí, nhìn ra sông Thanh Quýt ở hướng nam, là ranh giới của hai làng Thanh Quýt và An Tự.

Theo lời kể, ngoài hậu tẩm có thờ Phật, Lão, Khổng, có tượng 18 vị La Hán, trong chùa còn thờ các bậc tiền hiền “Thất tộc” khai canh khai cư là Nguyễn Hữu, Lê Tự, Trương Công, Nguyễn Bá, Nguyễn Văn, Lê Công, Phan Sĩ và bài vị của ngài Trương Công Trinh.

Sau khi chùa xây dựng lại bằng gạch ngói, do có mâu thuẫn, bài vị của ngài được gia đình mang về thờ tại nhà. Nay là nhà ông Trương Công Chè, đời thứ 13 ở thôn Thanh Quýt 4.

Lúc nhỏ, tôi (TĐT) đã nhiều lần lên chùa làng. Bên ngoài là cổng Tam quan có lầu. Gần tam cấp hai đầu tam quan, phía trong sân có hai miếu thờ, giữa sân rộng là một cột cờ. Từ cổng vào khoảng 20 mét là nhà chính, có thờ các vị tiền hiền, gian hậu tẩm thờ các vị tổ Tam Thanh. Giữa hai nhà này là khoảng sân trời, hai bên đặt tượng 18 vị La Hán hình như bằng đất nung, sơn nhiều màu, ở giữa là một tấm bia rất lớn.

Theo cụ Lê Tự Ký, năm 2014 đã 85 tuổi, (con của ông Hương Bôn, trong hội đồng Ngũ Hương, xưa có tham gia việc cúng bái ở chùa Làng) cho biết, vào ngày 16 tháng 3 âm lịch hàng năm, là ngày giỗ tiền hiền thất tộc, các Tộc biểu ( đại diện thất tộc) sau khi cúng ở chùa mới sang hội hương ở đình làng, bàn công việc như một ủy ban lập pháp và giao cho lý trưởng thực hiện, như một cơ quan hành pháp. Ông Nguyễn Hữu Khanh, người am hiểu nhiều chuyện cũ ở làng cho biết: Hồi chùa làng bị hợp tác xã dỡ ra lấy gạch, gỗ, ông đã kịp ghi lại được hai câu đối trên cổng tam quan:

“ Đông Bình, Tây Định, bổn Trung Lương, Ấp lý giang san y cựu

“Nguyễn Lê Trương Bá Văn Công Sỹ, Tiền hiền ảnh tướng chi tiên.

Nhiều người lớn tuổi cho biết tất cả con dân trong làng, kể cả đàn bà phụ nữ đều có thể “lên chùa” trong các ngày cúng tế; trong khi đó ở đình thì chỉ có đàn ông mới tới…

II-

Bia Công Đức

Bia tạc bằng đá xanh, kích thước khoảng 40cmx 60 cm, dày 10 cm.

Chúng tôi đã mời cụ Lê tự Ký đến dịch tại chỗ nhưng vì nhiều chữ bị mờ nên không dịch hết.

Có thể tóm tắt như sau: Chùa làng được tiền nhân xây dựng, năm Ất Sửu 1865 ( tự Đức thứ 18) được xây dựng lại bằng gạch, gỗ. Năm Kỷ Tỵ, ngày 15.9. 1869 ( Tự Đức nhị thập nhị niêncửu nguyệt thập ngũ nhật) djwng bia công đức, bia do ông Nguyễn Hữu Hà phụng cúng.

Chùa xây dựng là do các tộc đóng góp tiền của công sức.

Trên bia có ghi tên các ông Nguyễn Hữu Thường, nguyên thơ lại

Nguyễn Hữu Phước, nhiêu lão

Trương Hữu (chữ mờ)… trưởng xóm

Trương Hữu Gia, nguyên lý trưởng

Lê Tấn Hương, Nguyễn Văn Hạnh

Nguyễn Văn Hường ( nguyên lý trưởng), Nguyễn Hữu Hiệu, Trương Hữu Lễ, Lê Công…(chữ mờ)

Thanh Quýt trung tổng, Thanh Quýt xã

Chư tộc đồng bia bảng.

Sau đây là toàn văn và bản dịch Bia Công Đức theo tài liệu lưu trữ của Viện Hán Nôm do ông Tôn Thất Hướng ( Trung tâm Bảo tồn di tích Quảng Nam cung cấp)

Bia công đức chùa làng Thanh Quýt, Điện Bàn.

Phiên âm:
Phù tích cốc dĩ phòng cơ, hữu bị tắc vô hoạn. Ngã hương tích tự Ất Sửu niên, khâm phụng đình nghị trích điền khuyến quyên thu liễm trừ tích. Nhân dĩ điền thiểu chước thủ bát mẫu hứa, tác điền điền tịnh hiếu nghĩa quyên tư thu liễm vu tư trợ binh tư dân hương nhu tưởng dĩ thành, sổ đồng ưng tạo thạch bi chí dĩ thùy vĩnh cửu. Sở hữu hà viên nhân quyên can lư liệt vu tả, kê:
Quyên tiền tịnh túc trị tiền nhất bách quán: Chánh cửu phẩm thư lại Nguyễn Hữu Điển.
Quyên tiền tịnh túc trị tiền tam thập ngũ quán: Lão nhiêu Trương Hữu …, Lê Tự Hải.
Quyên tiền tam thập quán: Lão nhiêu Nguyễn Hữu Lô.
Quyên tiền tịnh túc trị tiền nhị thập quán: Thư lại Lê Tự Hội, Thư lại Lê Tự Thành, Kỳ lão Lê Tự Quang, Lão nhiêu Lê Tự Thị, Lê Tự Khóa quyên tiền thập ngũ quán, hương chánh cố Trương Hữu Nghị.
Quyên tiền tịnh túc trị tiền thập ngũ quán: Chánh cửu phẩm thư lại Lê Tự Tú, Tri hương Nguyễn Hữu Bính, Hương chính Nguyễn Đăng Tú, Phó tổng dụng Nguyễn Hữu Thận, Lão nhiêu Nguyễn Hữu Triêm, dân Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Văn Chất.
Quyên tiền tịnh túc trị tiền thập quán: Tòng cửu phẩm Nguyễn Hữu Duệ, Thư lại Trương Hữu Thi, Thủ sắc Lê Tự Ân, Nguyễn Hữu Bảo, Bồi bái Lê Tự Lịch, Thí sinh Lê Tự Toán, Phó tổng dụng Lê Tự Danh, Dịch mục Trương Hữu Khuê, Trùm ấp Nguyễn Hữu Ninh, Nguyên thư lại cố Nguyễn Hữu …, Lão nhiêu Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Hữu Đặng, dân Lê Tự Cửu, Nguyễn Hữu Đính.
Lại quyên tiền tịnh túc trị tiền ngũ quán: Thư lại Lê Tự Lợi, Lý trưởng Lê Tự Điều, Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Hữu Phước, Dịch mục Nguyễn Hữu Danh, Biện thương Nguyễn Hữu Giai, Lân trưởng Lê Tự Niệm, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Hữu Đặng, Nguyễn Văn …, Lão nhiêu Nguyễn Hữu Liễm, Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Văn Hương, Nguyễn Đăng Quyền, dân Nguyễn Văn Động, Trương Hữu Gia, Nguyễn Hữu Ưng, Nguyễn Hữu Trực, Nguyễn Hữu Quyền.
Quyên tiền tam quán: Dịch mục Lê Tự Dự, ngụ cư Ngô Văn Cư quyên túc tam hộc …, Văn nhân nhị hộc: Thí sinh Trần Đức Quảng tiền ngũ quán.
Kỷ Tỵ niên tục quyên tiền các ngũ quán Trùm trưởng Lê Tự Trạch, Nguyễn Đăng Bảo, Bồi bái Trương Hữu …, Nguyễn Đăng Bồ, Nguyễn Văn …, Trùm ấp Nguyễn Hữu Hòa, Lân trưởng Lê Hữu Cử, Phan Văn Long, Nguyễn Hữu Thừa, Lão nhiêu Lê Tiến …, Nguyễn Văn Hạnh, An Nghiệp thôn Nguyễn Văn Kim thê Trần Thị Ngọt.
Tự Đức nhị thập nhị niên cửu nguyệt thập ngũ nhật
Tạm dịch:
Phàm chứa thóc để phòng đói, có chuẩn bị thì không lo. Làng ta xưa từ năm Ất Sửu (1865) đã vâng lời bàn, họp bàn trích ruộng, khuyến thu tích trữ thóc, nhưng vì ruộng ít nên cân nhắc lấy hơn 8 mẫu cho thuê và kẻ thích điều nghĩa cũng đóng của vào. Binh dân góp sức, góp của thì những việc làng tưởng chừng cũng đã hoàn tất. Nay làng cùng dựng tạo bia để lại vĩnh cữu. Kính ghi lại những ai đã quyên góp dưới đây:
Quyên tiền cùng thóc lúa, tiền được 100 quan: Chánh cửu phẩm thư lại Nguyễn Hữu Điển.
Quyên tiền cùng thóc lúa, tiền được 35 quan: Lão nhiêu Trương Hữu …, Lê Tự Hải.
Quyên tiền cùng thóc lúa, tiền được 30 quan: Lão nhiêu Nguyễn Hữu Lô.
Quyên tiền cùng thóc lúa, tiền được 20 quan: Thư lại Lê Tự Hội, Thư lại Lê Tự Thành, Kỳ lão Lê Tự Quang, Lão nhiêu Lê Tự Thị, Lê Tự Khóa quyên tiền thập ngũ quán, hương chánh cố Trương Hữu Nghị.
Quyên tiền cùng thóc lúa, tiền được 15 quan: Chánh cửu phẩm thư lại Lê Tự Tú, Tri hương Nguyễn Hữu Bính, Hương chính Nguyễn Đăng Tú, Phó tổng dụng Nguyễn Hữu Thận, Lão nhiêu Nguyễn Hữu Triêm, dân Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Văn Chất.
Quyên tiền cùng thóc lúa, tiền được 10 quan: Tòng cửu phẩm Nguyễn Hữu Duệ, Thư lại Trương Hữu Thi, Thủ sắc Lê Tự Ân, Nguyễn Hữu Bảo, Bồi bái Lê Tự Lịch, Thí sinh Lê Tự Toán, Phó tổng dụng Lê Tự Danh, Dịch mục Trương Hữu Khuê, Trùm ấp Nguyễn Hữu Ninh, Nguyên thư lại cố Nguyễn Hữu 0, Lão nhiêu Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Hữu Đặng, dân Lê Tự, cửu Nguyễn Hữu Đính.
Lại quyên tiền cùng thóc lúa, tiền được 5 quan: Thư lại Lê Tự Lợi, Lý trưởng Lê Tự Điều, Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Hữu Phước, Dịch mục Nguyễn Hữu Danh, Biện thương Nguyễn Hữu Giai, Lân trưởng Lê Tự Niệm, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Hữu Đặng, Nguyễn Văn …, Lão nhiêu Nguyễn Hữu Liễm, Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Văn Hương, Nguyễn Đăng Quyền, dân Nguyễn Văn Động, Trương Hữu Gia, Nguyễn Hữu Ưng, Nguyễn Hữu Trực, Nguyễn Hữu Quyền.
Quyên tiền 3 quan: Dịch mục Lê Tự Dự, ngụ cư Ngô Văn Cư quyên thóc 3 hộc …, Văn nhân hai hộc: Thí sinh Trần Đức Quảng tiền 5 quan.
Năm Kỷ Tỵ những người tiếp tục quyên số tiền 5 quan: Trùm trưởng Lê Tự Trạch, Nguyễn Đăng Bảo, Bồi bái Trương Hữu …, Nguyễn Đăng Bồ, Nguyễn Văn…, Trùm ấp Nguyễn Hữu Hòa, Lân trưởng Lê Hữu Cử, Phan Văn Long, Nguyễn Hữu Thừa, Lão nhiêu Lê Tiến …, Nguyễn Văn Hạnh, thôn An Nghiệp có Nguyễn Văn Kim và vợ Trần Thị Ngọt.
Ngày 15 tháng 9 năm Tự Đức thứ 22 (Kỷ Tỵ 1869)

Trong lúc điền dã vào đầu tháng 2 âm lịch năm 2014, tôi được nghe nhiều người kể lại: “Vào năm 1979-80, sau khi tháo dỡ gạch, gỗ, một tấm bia lớn đã được khiêng ra bỏ ngoài bờ sông, nay sông lở, bia đã bị chìm lấp đâu đó…”.

Ông Lê Công Bòng ở thôn Thanh Quýt 3 lúc đó có xưởng xay xát sát chùa cho biết đã chứng kiến tấm bia được bỏ bên các bụi tre sát bờ sông, phía dưới máy bơm nước ông Tiềm, trước mặt chùa…

Ông Trương Công Thó lúc đó là đội phó đội 202 cho biết khác: “ Bia nặng lắm, có thể người ta đã chôn ở đâu đó dưới đất trong vườn chùa…”

Tại Làng Thanh Quýt, nhiều người dân còn cho biết, trong lúc chiến tranh, nhiều bức tượng, đồ cúng của chùa đã được đào chôn trong sân để giữ lại. Nay những người được cho là trực tiếp đào chôn thì đã chết. Nhưng có hai thông tin: 1- chôn dọc hai bờ thành sân chùa, và 2- Chôn giữa sân gần cột cờ.

Một di tích quan trọng với văn hóa làng như ngôi chùa này, thiết nghĩ cần có một nghiên cứu, khai quật bài bản do một cơ quan chuyên môn mới có thể gìn giữ được những giá trị đích thực của nó. Khi đó, chúng tôi hy vọng rằng tấm bia lớn và những vật dụng khác sẽ cho chúng ta nhiều thông tin bổ ích trước khi có những dự án khôi phục !

TĐT