Trang chủ > bài viết > LỊCH SỬ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG VÀ XÂY DỰNG XÃ ĐIỆN THẮNG

LỊCH SỬ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG VÀ XÂY DỰNG XÃ ĐIỆN THẮNG

31/07/2014

 

 

ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐIỆN BÀN

ĐẢNG BỘ ĐIỆN THẮNG BẮC, ĐIỆN THẮNG TRUNG, ĐIỆN THẮNG NAM

LỊCH SỬ

ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG VÀ

XÂY DỰNG XÃ ĐIỆN THẮNG

(1930-2005)

ĐIỆN THẮNG

THÁNG 01 NĂM 2011

LỜI NÓI ĐẦU

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ lâu dài và gian khổ cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân xã Điện Thắng, nay là Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung và Điện Thắng Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đã có nhiều cống hiến, viết lên những trang sử anh hùng, cùng quân và dân cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa nước ta vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, từng bước tiến lên giành nhiều thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc ngày nay
Nhằm ôn lại lịch sử vẻ vang, xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của công tác giáo dục truyền thống cho cán bộ, đảng viên, nhân dân và nhất là cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, trong những năm qua, Đảng bộ ba xã Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung và Điện Thắng Nam đã tiến hành sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn tập sách “Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng xã Điện Thắng (1930 – 2005”. Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Đáng chú ý, từ năm 1975 về trước, chúng tôi chủ yếu sử dụng tập tư liệu là tập bản thảo “Lịch sử xã Điện Thắng qua các thời kỳ” do Đảng ủy và Ủy ban N hân dân xã Điện Thắng kết hợp với khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Huế, nay là Đại học Khoa học Huế, biên soạn. Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng nguồn tư liệu hồi ký, đặc biệt là hồi ký của những đồng chí lão thành cách mạng. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã tổ chức nhiều cuộc toạ đàm, góp ý, bổ sung tư liệu, đính chính các sự kiện nhằm góp phần làm cho tập sách mang tính khách quan và khoa học. Về thời kỳ từ năm 1975 đến 2005, nguồn tư liệu biên soạn chủ yếu dựa vào tư liệu thành văn còn lưu trữ ở địa phương. Tiếp đến là tư liệu từ báo, tạp chí có đề cập đến mảnh đất, con người xã Điện Thắng.
Tuy đã có nhiều nỗ lực nhưng khi bắt tay vào biên soạn, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Về nhân chứng lịch sử, nhiều đồng chí cốt cán qua hai thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ vì tuổi cao sức yếu, đã qua đời, gây khó khăn không nhỏ cho công tác xác minh tư liệu, đính chính sử liệu. Thêm vào đó, do thiên tai, lụt lội, nhiều tài liệu, kể cả tài liệu lưu trữ sau năm 1975, bị ẩm ướt, bị mất mát, không thể phục hồi được. Xuất phát từ nguyên nhân trên, tập sách rõ ràng khó có thể tránh khỏi một số thiếu sót, khuyết điểm, chưa đáp ứng đầy đủ lòng mong đợi cũng như sự quan tâm sâu sắc của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là các đồng chí lão thành cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như những đồng chí đã, đang công tác, có nhiều cống hiến trong quá trình xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội… trên địa bàn các xã Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung và Điện Thắng Nam. Do vậy, chúng tôi rất mong được đón nhận sự góp ý, phê bình, bổ sung tư liệu, sự kiện của đồng bào, đồng chí cũng như bạn đọc gần xa nhằm bổ sung, sửa chữa để lần xuất bản sau hoàn chỉnh hơn.
Qua đây, chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Điện Bàn, các đồng chí lão thành cách mạng, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã đã giúp đỡ, động viên chúng tôi trong quá trình hoàn thành tập sách này.
Nhân kỷ niệm…………………………………………., chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tập sách “Lịch sử phong trào đấu tranh và xây dựng xã Điện Thắng (1930 – 2005)” với đồng bào, đồng chí và bạn đọc xa gần.
Điện Thắng, ngày….. tháng …. năm……

CHƯƠNG MỘT:

ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THỐNG

ĐẤU TRANH YÊU NƯỚC, ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG

DẪN ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

I- ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI:

Xã Điện Thắng, nay được chia thành ba xã là Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung và Điện Thắng Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nằm ở 15050’ đến 15057’23” vĩ độ Bắc và 108015’ kinh độ Đông. Phía Bắc xã Điện Thắng giáp xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp xã Điện An, phía Tây giáp xã Điện Hòa, phía Đông giáp xã Điện Ngọc và một phần Đông Nam giáp xã Điện Nam đều của huyện Điện Bàn. Quốc lộ 1A chạy ngang qua ngay chính giữa xã với chiều dài khoảng 3km, chia địa hình xã thành hai phần gần bằng nhau. Từ Điện Thắng ra Đà Nẵng chưa đầy 18km, vào thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn độ 4km. Tổng diện tích tự nhiên toàn xã 12.422ha. Trong đó, đất dùng cho canh tác nông nghiệp 726,87ha. Về đặc điểm địa hình, Điện Thắng là vùng đất tương đối gần biển. Đồng ruộng Điện Thắng xen lẫn nhiều gò, bãi phù sa cổ chia xã thành nhiều khu vực khác nhau. Nhìn chung, địa hình toàn xã có xu hướng nghiêng dần từ Tây sang Đông với độ dốc trung bình khoảng chừng 10.

Cũng như nhiều địa phương khác của tỉnh Quảng Nam, Điện Thắng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình từ 24 đến 260C. Mùa mưa bão diễn ra trùng với mùa Đông. Về hệ thống sông ngòi, xã Điện Thắng có hai sông là sông Thanh Quýt và sông Tứ Câu. Sông đào Thanh Quýt chảy từ Điện An qua các làng Phong Lục, Phong Ngũ, Thanh Quýt trước khi chảy sang địa bàn xã Điện Ngọc. Từ dòng sông chính này còn có hệ thống kênh mương nối liền các hồ, đầm tự nhiên tạo thành mạng lưới cung cấp nguồn nước cho nhiều cánh đồng ở Điện Thắng. Riêng sông Tứ Câu nằm ở địa phận phía Bắc xã, làm ranh giới tự nhiên giữa Điện Thắng với Hòa Phước và cũng là nguồn nước tưới cho một số khu vực ở gần đó. Bên cạnh sông Thanh Quýt, sông Tứ Câu, rải rác trên các cánh đồng ở An Thanh, Phong Lục, Viêm Tây còn có nhiều bàu, hồ. Trong đó, có những bàu lớn như Bàu Đưng có diện tích lên đến 15ha, Bàu Sen 9ha… Bàu cũng là nơi tích nước, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và là nơi cung cấp cả nguồn thực phẩm tôm, cá, cua, ốc… phục vụ đời sống nhân dân địa phương.

Điện Thắng1 gồm 6 làng cũ là Thanh Quýt, Phong Lục, Phong Ngũ, Bồ Mưng, Viêm Tây và An Thanh. Sau nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính, đến đầu thế kỷ XX, cả 6 làng cũ này đều thuộc huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, mỗi làng là 1 xã. Đến tháng 3 năm 1946, theo chủ trương của trên, các làng Bồ Mưng và Viêm Tây hợp lại thành xã Bồ Viêm; Các làng Thanh Quýt, An Tự, An Thanh nhập lại thành xã Thanh Tú Tự, hay còn gọi là Thanh An; Các làng Phong Lục và Phong Ngũ hợp thành xã Châu Phong. Tháng 11 năm 1948, chính quyền tổ chức hợp xã lần thứ hai. Theo đó, các xã Bồ Mưng, Thanh An, Bích Quang, Hà Thanh sáp nhập thành xã Điện Hòa. Còn Châu Phong thuộc xã Điện An. Sau năm 1954, địch chia lại các xã. Các làng Bồ Mưng, Viêm Tây, Thanh Quýt, An Thanh tách ra khỏi Điện Hòa để nhập với các làng Phong Lục, Phong Ngũ thành xã Thanh Trường. Năm 1964, khi phong trào Đồng Khởi thắng lợi, ta lập Ủy ban Nhân dân Tự quản, đổi tên xã thành xã Điện Thắng. Mãi đến năm 2005, xuất phát từ yêu cầu chung, Điện Thắng tách ra thành ba xã mới là Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung và Điện Thắng Nam.

Theo tài liệu còn lưu lại thì xã Điện Thắng được khai phá từ khá sớm, ngay từ cuối thế kỷ XV. Như phổ hệ tộc Lê Tự ở làng Thanh Quýt đã chép rằng ông tổ của tộc “…làm quan Thượng tướng triều Lê, đặt trấn tại Nghệ An, sắc phong Ngự Lộc Hầu. Đời vua Lê Thánh Tông, cho vào dẹp giặc Chiêm Thành. Khi yên giặc cùng với các vị tiền hiền khác ở lại khai khẩn đất hoang di dân lập ấp”. Phổ hệ tộc Võ ở làng Phong Ngũ cũng xác định tiền hiền tộc Võ theo vua Lê Thánh Tông vào đánh Chiêm Thành và cùng với các tộc tiền hiền khác ở lại vùng đất này khai canh, khai cư, lập làng, lập xóm. Các làng Phong Lục, Viêm Tây, Bồ Mưng tình hình cũng diễn ra tương tự. Chỉ có làng An Thanh được khai phá sau. Hầu hết các tộc, họ ở Điện Thắng đều có quê gốc Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Có thể nói, từ vùng đất hoang vu, lau lác um tùm, bằng lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, người dân địa phương đã biến thành đồng ruộng phì nhiêu, xóm làng đông đúc như ngày nay.

Dưới thời thực dân phong kiến, tuyệt đại nhân dân, nhất là nông dân, bị áp bức, bóc lột nặng nề. Các quan viên, chức sắc, cường hảo, lý dịch… cùng các kỳ hào tạo thành tầng lớp thống trị ở các làng. Đặc biệt, hồi đầu thế kỷ XX, Điện Thắng có nhiều địa chủ lớn như Giám Như, Thừa Tuyên ở Thanh Quýt, Bà Vịnh ở Thanh Tú nắm trong tay hàng chục mẫu ruộng. Điển hình là ở làng An Thanh chỉ có 200 mẫu ruộng nhưng Bà Vịnh đã chiếm gần 50 mẫu. Có chức vụ, tiền của trong tay, bọn lý hương, cường hào, địa chủ tìm mọi cách bóc lột nhân dân, nhất là việc biến ruộng công thành ruộng tư trục lợi. Có nơi như ở An Thanh, lý trưởng Đoàn Khôi và đồng bọn tự tiện nâng mức thuế từ 1 đồng 2 giác lên 1 đồng 5 giác để lấy tiền thừa bỏ túi. Về tầng lớp nông dân, ngoài một số ít trung nông, có ruộng đất, có của ăn của để thì phần đông là bần nông, cố nông có ít ruộng đất hoặc không có ruộng đất phải đi làm thuê, làm mướn, kiếm miếng cơm, manh áo hàng ngày.

Về kinh tế, giống như nhiều làng xã khác, người dân Điện Thắng chủ yếu sống về nghề nông. Cây trồng chính là lúa. Mỗi năm, có hại vụ lúa chính. Đó là vụ lúa Đông Xuân và vụ lúa Hè Thu. Vụ Đông Xuân là vụ chính bắt đầu vào tháng mười và thu hoạch vào tháng ba âm lịch. Vụ Xuân Hè bắt đầu vào cuối tháng ba đầu tháng tư và thu hoạch vào cuối tháng tám âm lịch. Bên cạnh cây lúa, bà con còn trồng lúa nếp phục vụ cho những ngày giỗ, lễ, Tết… hàng năm. Cùng với lúa cấy, ở một số ruộng cao, nhân dân còn làm lúa gieo. Về cây hoa màu, phổ biến là cây sắn, khoai, ngô, đậu phụng… Trong đó, sắn và khoai được trồng nhiều hơn cả. Tại các vùng phía Tây của các làng Phong Lục, An Thanh, Viêm Tây, Bồ Mưng các loại cây trồng như khoai, sắn nhiều khi chiếm 40% sản lượng lương thực. Bữa ăn của người dân địa phương ngoài gạo còn độn thêm sắn, khoai, nhất là trong những kỳ giáp hạt. Đặc biệt, ngoài cây lương thực, người dân ở Thanh Quýt còn trồng cây thuốc lá. Tương truyền, thuốc lá Thanh Quýt ngon không khác gì thuốc lá Cẩm Lệ nổi tiếng. Thuốc lá Thanh Quýt là nguồn thu nhập không nhỏ của người dân làng Thanh Quýt.

Để phát triển sản xuất nông nghiệp, ngay từ thời xa xưa, nhân dân xã Điện Thắng cùng nhân dân các làng, xã khác trong vùng đã đào sông Thanh Quýt lấy nước tưới vào đồng ruộng. Đây là công trình thủy lợi có quy mô được khởi công và hoàn thành dưới thời phong kiến. Công trình này đã phát huy tác dụng trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất cây lúa ở Điện Thắng nói riêng và nhiều làng, xã khác nói chung. Bên cạnh sông đào Thanh Quýt, người dân Điện Thắng còn đào một con lạch nối liền bàu nước An Thanh với sông Thanh Quýt nhằm thoát nước ra sông đào Thanh Quýt, góp phần chống úng ngập vào mùa mưa. Có thể nói, sông đào Thanh Quýt và con lạch nối liền bàu nước An Thanh với sông đào Thanh Quýt là những công trình thủy lợi chính ở Điện Thắng. Những công trình này đã nói lên tinh thần đoàn kết, tương thân tương trợ, lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân các làng, xã ở Điện Thắng trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống.

Song song với nông nghiệp, từ xa xưa, người dân Điện Thắng đã phát triển nhiều nghề thủ công truyền thống như kéo sợi, dệt vải, đan lát… Nghề nuôi tằm ươm tơ là nghề truyền thống của người Quảng. Ở Điện Thắng, đất trồng bông ít, chủ yếu ở các làng Bồ Mưng và Viêm Tây, chỉ đáp ứng một phần nhu cầu bông cho nghề kéo sợi. Phần còn lại, bà con phải mua bông ngoài thị trường về quay sợi, mang sợi đi bán ở chợ vải Thanh Quýt, chợ Phong Thử. Nghề chủ yếu lấy công làm lời, cải thiện đời sống cho một bộ phận dân cư. Trong lúc đó, nghề dệt vải tập trung ở Thanh Quýt, An Thanh, Phong Lục và một ít gia đình ở Phong Ngũ. Xưa nay, dân các làng không trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, kéo sợi mà nguyên liệu chính mua về để dệt trên khung cửi với sản phẩm chính là vải ta và vải Tàu.

So với hai nghề thủ công nói trên thì nghề đan lát phát triển mạnh hơn. Trong đó, nổi bật nhất là ở An Thanh. Kế đến là một số gia đình ở Phong Lục, Phong Ngũ. Ở An Thanh, có câu “Thức khuya dậy sớm cho quen/ Làm dâu Thanh Tú thắp đèn đan phên”. Theo các bô lão ở An Thanh, nghề đan cót, đan phên có thừ thời xa xưa. Nghề không đòi hỏi kỹ thuật tỉ mỉ nên hầu như ai cũng có thể làm được, chỉ cần siêng năng, cần cù là được. Sản phẩm cót, phên sau khi thành hình, sẽ được mang đi bán ở nhiều địa phương, kể cả Hội An và Đà Nẵng. Bên cạnh cót, phên, xưa, nhiều gia đình ở Phong Lục, Phong Ngũ còn nhận đan giỏ quế do thương nhân buôn quế ở Hội An, Đà Nẵng đặt mua để đi buôn quế. Loại này phải đan bằng cật tre mới bền. Ngoài hai mặt hàng trên, bà con còn đan nhiều vật dụng trong nhà như rổ, rá, thúng, mủng, nong, nia… cung cấp thị trường. Mươi năm trở lại đây, nghề đan lát tàn lụi. Ở An Thanh không còn ai hành nghề. Những địa phương khác, người ta cũng chỉ đan một số vật dụng chủ yếu để sử dụng là chính. Nghề đan lát coi như không còn tồn tại.

Cũng như nhiều địa phương khác, hồi trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, hàng năm, các làng, xã ở Điện Thắng tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa tinh thần, tâm linh như lễ tế Thành Hoàng, tiền hiền của làng, hội xóm, ấp, hội cầu thánh tế trừ quỷ, hội xuống đồng, tế Xuân, tế Thu… Ở Bồ Mưng, Thanh Quýt đầu năm bà con hay tổ chức ném cù. Ở An Thanh phổ biến trò chơi đua thuyền đua ghe thường được tổ chức vào mùa nước lớn. Trò này thường kết hợp với nghi lễ tiến đưa bọ xít. Ở các làng Thanh Quýt, Viêm Tây hay tổ chức trò chơi đu, bài chòi, bài me trong các ngày Tết và ngày hội. Đó là những sinh hoạt văn hóa vui tươi, lành mạnh, góp phần tạo sự đoàn kết trong các bộ phận dân cư. Các trò chơi này thường được tổ chức ở đình làng. Ngoài việc thờ các vị tiền hiền, dân các làng còn thờ nhiều vị thần khác như Thái Giám, Bạch Mã, Ngũ Hành làm Thành Hoàng. Mỗi làng ở Điện Thắng đều có chùa. Nhưng ngôi chùa to nhất ở đây là chùa làng Thanh Quýt. Tương truyền, chùa này được trùng tu lớn vào năm Ất Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 22, tức năm 1869.

Về giáo dục, các làng không mở trường công. Do vậy, các lớp học đều do tư nhân mở, mời thầy về nuôi để dạy cho con cháu mình. Tại Thanh Quýt có lớp của ông Lê Hoàng thu hút khá đông học trò giỏi. Các thầy giáo, nho sinh thời trước luôn được dân làng trọng vọng. Phụ huynh góp gạo, góp tiền nuôi thầy. Các ngày lễ, Tết hàng năm, học trò và cha mẹ thường đến viếng thầy, tặng quà cáp, tiền bạc để tỏ lòng biết ơn. Làng, với danh nghĩa tổ chức tập thể, cũng dành cho nho sĩ, nho sinh được hưởng quyền ưu tiên, miễn nhiễu, miễn sai, được ngồi ở vị trí xứng đáng trong đình làng. Đặc biệt, mỗi làng còn trích ra 5 sào ruộng hạng nhất1 để làm ruộng học điền, giúp thầy và trò đi học, đi thi. Cũng ở Thanh Quýt, những nho sĩ, nho sinh tập hợp nhau trong tổ chức gọi là hội tư văn. Họ dựng Văn Thánh thờ Khổng Tử và làm nơi sinh hoạt thường niên của họ.

II- TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN ĐIỆN THẮNG:

Từ khi đặt chân lên vùng đất mới, người dân Điện Thắng tích cực khắc phục khó khăn, ra sức khai phá đất đai, đấu tranh với khí hậu thiên nhiên khắc nghiệt, biến vùng đất hoang vu, đầm lầy, nước đọng, thành đồng ruộng tốt tươi, nhà cửa, làng mạc đông đúc, tấp nập người qua kẻ lại như ngày nay. Cùng với quá trình đấu tranh với thiên nhiên, các tộc họ ở Điện Thắng còn có truyền thống đấu tranh chống ách áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ, phong kiến, và nhất là đấu tranh chống giặc ngoại xâm, góp phần bảo vệ độc lập dân tộc.

Trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, thanh niên các làng, xã ở Điện Thắng đã hăng hái tham gia nghĩa quân Tây Sơn, góp phần vào chiến thắng lẫy lừng của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ chống quân xâm lược Xiêm ở phía Nam và nhất là quân xâm lược Mãn Thanh ở phía Bắc vào những năm cuối thế kỷ XVIII. Gia phả họ Trương Công ở làng Thanh Quýt cho biết thế hệ thứ 7 của dòng họ này có ông Trương Công Hy đã tham gia phong trào Tây Sơn. Nhờ lập được nhiều chiến công lớn nên ông được phong chức “Binh bộ Thượng thư Thủy An hầu thụy Tịnh Cung”. Gia phả họ Hà ở làng Phong Ngũ cũng cho biết vào đời thứ 7 có ông Hà Đức Tự tham gia phong trào Tây Sơn. Có thể nói, đó là những tấm gương điển hình của người dân Điện Thắng đối với cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn long trời lở đất lúc bấy giờ.

Tiếp đến, vào nửa cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta. Triều đình Huế khiếp nhược, sớm đầu hàng chúng. Khi phong trào Cần Vương diễn ra, có một viên quan người Điện Thắng là ông Hà Đức Ý, tuổi cao, sức yếu, không thể đứng lên đánh đuổi bọn thực dân. Nhưng vì quá bất mãn với sự khiếp nhước của triều đình Huế nên ông đã xin từ quan về làng, tặng ấn kiếm của mình cho nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu để tỏ rõ chí khí của mình. Trong lúc đó, phối hợp cùng với nhân dân Quảng Nam và nhân dân cả nước, nhân dân Điện Thắng hăng hái tham gia phong trào Cần Vương, đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp. Tại làng An Thanh có ông Nguyễn Vĩnh Nam giữ chức đô đốc lãnh đạo một đội quân 40 người hoạt động ngay tại Thanh Tú. Ông Nguyễn Vĩnh Trinh, tức ông Xã Năm ở làng Phong Ngũ, cũng đứng lên tổ chức một số người tham gia chiến đấu cùng với đạo quân của ông Nguyễn Vình Năm.

Một đạo quân khác với hàng chục nghĩa binh do hai ông Hà Tân, Hà Phong lập đã tiến hành nhiều hoạt động du kích, trực tiếp tiêu hao lực lượng địch ngay ở Điện Thắng. Đặc biệt, tháng 12 năm 1885, đội nghĩa binh tổ chức một trận chống càn, bắt được 3 tên lính Pháp, giải vào căn cứ, tổ chức cho nhân dân xử tội. Sau sự kiện này, hai ông Hà Tân, Hà Phong được Nghĩa hội phong cho chức Quảng Phong, Quảng Tân. Nhưng, cũng bắt đầu từ đây, Pháp tập trung lực lượng, tăng cường đàn áp, quyết bắt được hai ông và đánh tan đội nghĩa quân này. Mặc dù được nhân dân che chở nhưng vì lực lượng quá chênh lệch nên cuối cùng hai ông rơi vào tay giặc. Quảng Phong bị chúng đày sang châu Phi còn Quảng Tân bị chúng giết tại Mân Thuê, một địa bàn nay thuộc huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Số nghĩa binh còn lại trốn khỏi địa bàn xã, đi vào phía Nam để gia nhập các đội nghĩa quân khác. Anh em tích cực chiến đấu cho đến khi phong trào Cần Vương ở Quảng Nam bị thất bại hoàn toàn.

Bước sang những năm đầu thế kỷ XX, nhân dân Điện Thắng lại hăng hái tham gia phong trào Duy Tân, phong trào Đông Du. Ông Phan Thành, người Điện Thắng, đã đứng ra tổ chức các cuộc diễn thuyết, mít tinh phổ biến những kiến thức về tự do, bình đẳng, bác ái cho nhân dân. Các nhóm thanh niên nam nữ do ông tổ chức sinh hoạt khá sôi nổi. Họ học chữ quốc ngữ, hô hào cắt tóc ngắn, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan… Các nhà nho tiến bộ như ông Đỗ Tuấn, người làng Phong Lục, mở lớp dạy chữ quốc ngữ thu hút 30 học viên. Nội dung dạy và học tiến bộ, chủ yếu phổ biến kiến thức, mở mang dân trí, giáo dục truyền thống yêu nước, thương nòi. Việc tuyên truyền mặc áo ngắn, dùng đồ nội hóa, chống mê tín dị đoan được đẩy mạnh, ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân. Phong trào Duy Tân và Đông Du đã thổi luồng gió mới, tạo cơ sở, tiền đề để nhân dân Điện Thắng tham gia phong trào mới. Đó là phong trào chống thuế.

Tháng 2 năm 1908, nhân một đám giỗ ở Đại Lộc, nhận thấy bọn thực dân phong kiến đặt ra sưu cao thuế nặng khiến đời sống bà con khốn khổ, một số người mới khởi xướng viết đơn xin giảm sưu thuế rồi cùng nhau ký tên, điểm chỉ, gửi lên kêu kiện. Tri huyện được tin, một mặt tìm cách ngăn chặn, mặt khác, báo lên trên. Trước tình hình ấy, mọi người quyết định kéo nhau lên tỉnh đường. Khi đoàn biểu tình kéo xuống Hội An, bà con các làng ở Điện Thắng, dưới sự chỉ huy của ông Đốc Chước ở Phong Ngũ, các ông Nguyễn Nhiêu và Nguyễn Ân ở làng Thanh Quýt, rầm rầm nhắm Hội An mà đi để hỗ trợ cuộc đấu tranh của nhân dân Đại Lộc cũng như nhân dân các huyện, các xã khác. Tên công sứ Hội An ra lệnh đàn áp cuộc biểu tình. Nhưng bà con không nao núng, tiếp tục bao vây Tòa sứ. Trong lúc đó, ở làng Phong Ngũ, các ông Thư Huấn, Thủ Toán, Chánh Kiệt, Bát Vạn cùng hơn 40 người trong làng lại tham gia một đoàn biểu tình khác kéo lên vây phủ đường Điện Bàn, gặp viên quan tổng đốc Từ Thiệp nêu yêu sách đòi bỏ việc đi xâu và giảm bớt các loại thuế. Đáng chú ý, phong trào chống thuế ở Điện Thắng đã lôi cuốn cả những người có chức, có quyền ở làng tham gia như các ông Hương, ông Phủ.

Cùng với việc tham gia các phong trào Tây Sơn, phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân… những năm đầu thế kỷ XX, nhân dân Điện Thắng còn tham gia các cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Nổi bật là các cuộc đấu tranh ở làng Thanh Quýt. Nguyên bấy giờ, lý trưởng Nguyễn Hữu Kính chiếm không một số ruộng của làng. Bức xúc trước việc làm của lý trưởng, các ông Nguyễn Hữu Sàng, Nguyễn Hữu Hoàng, Nguyễn Văn Nhân cùng viết đơn, vận động dân làng ký vào. Họ vừa gửi đơn kiện lên phủ vừa kiên quyết không cho người nhà lý trưởng mang số lúa gặt trên đám ruộng này về nhà. Cuộc đấu tranh diễn ra vô cùng căng thẳng. Cuối cùng, lý trưởng Nguyễn Hữu Kính thua, chấp nhận trả lại ruộng cho làng.

Cuộc đấu tranh thứ hai là cuộc đấu tranh chống việc làm sai trái của bọn lý hương. Số là, để tạo điều kiện cho người dân phát triển nghề dệt, chính quyền chủ trương bán sợi cho các gia đình có khung dệt vải với giá thành rẻ hơn so với giá sợi mua ngoài thị trường. Nhân cơ hội này, bọn lý hương tìm mọi cách bưng bít thông tin, rồi âm thầm mang chứng chỉ gia đình, họ hàng mình đến mua thu lợi. Nhưng sự việc cuối cùng cũng bị bại lộ. Dân làng Thanh Quýt bàn nhau viết đơn lên phủ, trình bày sự việc. Sau vụ này, lý trưởng Nguyễn Hữu Kính bị cách chức và phần lớn những gia đình có khung cửi đã mua được sợi để phát triển nghề dệt. Còn ở An Thanh, lý trưởng Đoàn Khói cũng đồng bọn tự tiện nâng mức thuế từ 1 đồng 2 giác lên 3 đồng 5 giác để bỏ túi. Biết được, mọi người đồng lòng kêu kiện, bắt chúng phải cúi đầu nhận tội và trả lại tiền cho dân làng.

III- ĐIỆN THẮNG TRONG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG TIẾN TỚI TỔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945):

Vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930, tình hình cách mạng Việt Nam có nhiều chuyển biến quan trọng. Năm 1925 phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng… Năm 1929, Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng tỉnh Quảng Nam được thành lập. Đồng chí Phạm Thâm, người Điện Bàn, là ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ. Nhờ vậy, phong trào cách mạng trong huyện có điều kiện để phát triển, dẫn đến sự ra đời của Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng phủ Điện Bàn do đồng chí Phạm Thâm làm Bí thư. Tiếp đến, ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngày 28 tháng 3 năm 1930, Tỉnh uỷ Lâm thời Quảng Nam ra thông báo về việc thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam. Ngày 5 tháng 4 năm 1930, Tỉnh uỷ phân công một số đồng chí Tỉnh uỷ viên về phủ Điện Bàn tuyên bố chuyển chi bộ Đông Dương Cộng sản phủ Điện Bàn thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam phủ Điện Bàn.

Có thể nói, những sự kiện lịch sử ấy đã tác động đến phong trào cách mạng xã Điện Thắng. Tháng 5 năm 1930, chi bộ ghép đầu tiên ở các làng Hà Thanh, La Thọ, Bích Trâm thuộc xã Điện Hòa ra đời. Chi bộ đã có nhiều hình thức tổ chức đảng viên đi sau tuyên truyền, xây dựng cơ sở quần chúng nhân dân trong vùng. Bấy giờ, Đảng bộ phủ Điện Bàn chủ trương thành lập các tổ chức “Nông hội đỏ”, “Cứu tế đỏ” và in truyền đơn rải khắp thôn, xã. Nội dung truyền đơn hô hào nhân dân đứng lên “Đánh đổ đế quốc, phong kiến Nam triều, thành lập chính phủ Xô Viết công – nông – binh, tịch thu ruộng đất giao cho dân cày…”.

Được vận đông, tuyên truyền, và lãnh đạo trực tiếp của tổ chức Đảng, tổ Nông Hội đỏ đầu tiên ở Điện Thắng ra đời tại làng Phong Lục1 do hai đồng chí Phan Duy và Phan Hoan phụ trách. Là một trong 4 tổ Nông Hội đỏ đầu tiên ở Điện Bàn, tổ Nông Hội đỏ Phong Lục chọn một số thành viên tích cực trong quần chúng làm hạt nhân cho các phong trào đấu tranh. Căn cứ vào khẩu hiệu của Đảng in trong truyền đơn, các đồng chí tổ viên Nông Hội đỏ đi sâu tuyên truyền, giác ngộ quần chúng. Thông qua công tác tuyên truyền, vận động, các đồng chí lựa chọn những người tốt đưa vào tổ chức Nông Hội. Nhiều cuộc đấu tranh trực diện chống các hành động cướp bóc, lộng hành của bọn cường hào đã được tổ chức, đem lại kết quar rõ rệt.

Trong lúc đó, tình hình trong nước có nhiều chuyển biến. Đặc biệt, ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã nổ ra phong trào Xô – Viết Nghệ Tĩnh long trời lở đất. Tiếng vang của phong trào tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ các phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước nói chung và Điện Thắng nói riêng. Cuối tháng 10 năm 1930, địch phát hiện ra cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam. Các đồng chí trong Tỉnh ủy bị bắt. Toàn bộ tài liệu bị tịch thu. Nhiều cơ sở bị lộ. Ở Điện Bàn, các chi bộ lần lượt bị vỡ, tác động đến phong trào cách mạng ở Điện Thắng. Một vài hội viên Nông Hội đỏ tỏ ra lúng túng, dè dặt, tạm thời nằm im không hoạt động. Có thể nói, đây là thử thách lớn đầu tiên đối với phong trào cách mạng còn non trẻ ở địa phương. Trước những diễn biến của tình hình, các đồng chí Phan Hoan và Phan Duy đã tổ chức họp từng nhóm quần chúng nhằm động viên, củng cố tinh thần cho từng người. Nhiều buổi nói chuyện thời sự cũng được tổ chức.

Nhờ có những hoạt động thiết thực, kịp thời ấy đã góp phần giữ vững lập trường của các nhóm quần chúng. Phong trào dần dần được phục hồi. Sang đầu năm 1931, truyền đơn xuất hiện ở các làng Viêm Tây, Phong Lục. Đồng chí Phan Duy là người được tổ chức phân công trực tiếp đảm nhận công việc nguy hiểm này. Có lần, đồng chí cùng hai quần chúng tốt treo cờ đỏ ở Cồn Bỉnh làng Viêm Tây. Những hoạt động nói trên gây tác động mạnh đến tinh thần của quần chúng, góp phần làm quần chúng càng vững tin vào Đảng, vào cách mạng, khiến kẻ thù vừa run sợ vừa tức tối, tìm mọi cách đàn áp. Chúng cho bọn tay chân ở các làng, xã tăng cường kiểm tra, bắt bớ, tra khảo những người chúng tinh nghi hoạt động cộng sản. Các đồng chí Phan Duy, Phan Hoan bị chúng bắt đưa xuống giam giữ ở nhà tù Hội An. Phong trào cách mạng ở Điện Thắng tạm thời lắng xuống.

Năm 1932, thực dân Pháp tiến tục đàn áp, kiểm soát chặt chẽ hơn. Chúng đặt nhiều điếm canh, treo tiền thưởng nhằm bắt bớ, truy lùng cán bộ, đảng viên. Chi bộ Đảng hướng dẫn quần chúng đấu tranh chống lại ách áp bức, bóc lột của bọn cường hào tại địa phương. Năm 1933, nhân dân làng Thanh Quýt, dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Hữu Khẩn đã làm đơn kiện xã Kỉnh vì đã giấu ruộng không chia cho dân. Vụ kiện kéo dài 7 tháng. Sự kiên trì, đấu tranh có lý lẽ của quần chúng đã đạt kết quả. Xã Kỉnh bắt buộc phải chia ruộng cho dân làng. Đặc biệt, tại làng Phong Lục, bà con đồng loạt làm đơn kiện xã Nhạn, xã Chương. Lợi dụng quyền hành, xã Nhạn, xã Chương bao chiếm nhiều ruộng đất tốt khiến nhân dân phẫn nộ. Chi bộ Đảng cũng cử người diễn thuyết, nội dung hô hào nhân dân “Chống áp bức, chống sưu cao thuế nặng”. Đầu năm 1935, dưới sự lãnh đạo của hai ông Lê Phong và Nguyễn Đường, 50 nông dân đứng lên đấu tranh đòi giảm thuế, tố cáo chế độ thuế khóa khắc nghiệt của thực dân Pháp. Lúc này, quần chúng tỏ thái độ phản kháng, ủng hộ cách mạng bằng cách bỏ điếm canh, không canh gác. Người ra vào thôn tự do, không còn bị ai xét hỏi như trước.

Năm 1936, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến quan trọng. Chủ nghĩa phát xít lên cầm quyền ở nhiều nơi. Tại Pháp, Mặt trận Nhân dân mà nòng cốt là Đảng Cộng sản Pháp lên nắm quyền. Việc này tác động thuận lợi đến cách mạng Việt Nam, nhất là khi chính phủ Pháp quyết định thả tù chính trị, thành lập Ủy ban điều tra tình hình thuộc địa, thi hành mổ số cải cách cho người lao động. Tháng 7 năm 1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, đề ra chủ trương trước mắt là đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, tay sai của chủ nghĩa phát xít, đòi tự do, cơm áo và hòa bình. Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương. Hình thức đấu tranh là lợi dụng triệt để khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp nhằm tập hợp và hướng dẫn nhân dân đấu tranh từ thấp lên cao, tuyên truyền tổ chức quần chúng, phát triển lực lượng.

Cũng như nhiều nơi khác, lúc này, phong trào cách mạng ở Điện Thắng từng bước được phục hồi và phát triển. Từ đầu năm 1936, đồng chí Phan Duy và Phan Hoan ra tù, tích cực hoạt động, kết nạp thêm một số đảng viên như các đồng chí Đỗ Kiếm, Nguyễn Trọng Sâm ở Phong Lục, Lê Tự Kỉnh ở Thanh Quýt. Trên cơ sở đó, phong trào cách mạng Điện Thắng có bước chuyển biến về chất. Nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra. Nổi bật là cuộc đấu tranh của 200 nông dân làng Viêm Tây diễn ra vào tháng 3 năm 1936. Sau 19 năm làm lý trưởng, Trần Phước Nga dùng quyền lực bao chiếm nhiều ruộng đất công. Nhờ vậy, viên lý trưởng này có đến 30 mẫu ruộng. Bức xúc trước sự lộng hành cùa lý trưởng Trần Phước Nga, dưới sự chỉ đạo của các ông Trần Phước Lũy, Trần Phước Thừa, nhân dân Viêm Tây đồng tình làm đơn cử đại diện lên tỉnh đường Quảng Nam tố cáo. Cuộc đấu tranh kéo dài cả năm đã gây tiếng vang lớn, làm chấn động cả phủ Điện Bàn. Trước tinh thần đấu tranh kiên trì của nhân dân, cuối cùng, thực dân Pháp không còn cách nào khác buộc phải cách chức lý trưởng của Trần Phước Nga, đưa Lê Nhự lên thay. Số ruộng đất viên lý trưởng bao chiếm bị tịch thu, trả lại cho làng.

Cũng trong thời gian này, ở làng Viêm Tây có ông Phan Thanh, một viên chức của Pháp, nhưng có tinh thần yêu nước. Nhận thấy chính sách cai trị của chúng quá tàn bạo, ông đấu tranh, đòi chính quyền ban hành những cải cách dân sinh, dân chủ, bớt gánh nặng thuế khóa cho dân lành. Thực dân Pháp tức tối, cách chức ông. Sau đó, chúng hèn hạ cho tay chân thủ tiêu. Sự hy sinh của Phan Thanh trở thành tấm gương cho mọi người học hỏi, noi theo.

Năm 1937, Đảng bộ Điện Bàn chủ trương phát động nhân dân thành lập các nhóm tương tế, hội trợ lý, hội lợp nhà, hội thợ cấy… để thông quá các tổ chức này giáo dục nhân dân tình thân ái, đoàn kết, tương thân tương trợ giữa những người cùng cảnh ngộ. Từ đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các chủ trương của Đảng, phát triển thực lực cách mạng. Chấp hành chỉ thị trên, dưới sự lãnh đạo của các đồng chí Phan Duy, Phan Hoan, Nguyễn Trọng Sâm, ở Điện Thắng, nhiều tổ chức tương tế đã ra đời. Trên cơ sở đó, các nhóm tương tế đã tiến hành vận động nhân dân tổ chức quyên góp gạo để giúp đỡ những gia đình túng thiếu, neo đơn. Thông qua đó, ta cũng tổ chức tuyên truyền, vận động bà con tổ chức dạy và học chữ quốc ngữ, thực hiện nếp sống văn minh, bãi bỏ nhiều hủ tục như tổ chức phúng điếu linh đình, ma chay tốn kém, những tập tục mê tín dị đoan.

Tháng 3 năm 1937, chính phủ Pháp phái Gô-đa điều tra tình hình Đông Dương, trực tiếp đến Đà Nẵng để thu thập nguyện vọng của dân chúng. Theo chủ trương của Tỉnh ủy, các chi bộ phải vận động nhân dân đi đón Gô-đa để qua đó biểu dương sức mạnh và bày tỏ nguyện vọng của mình. Được tuyên truyền, vận động, người dân các làng Phong Lục, Viêm Tây, Thanh Quýt kết hợp với bà con các làng La Thọ, Bích Trâm, Hà Thanh tập trung tại trảng Bình Đáng, nay thuộc xã Điện Hòa, để nghe các đồng chí đảng viên phổ biến mục đích, nội dung và biện pháp tổ chức đấu tranh. Nhân dân nhất trí cứ đồng chí Phan Duy, Nguyễn Trọng Sâm và Đỗ Kiếm làm đại biểu. Sau đó, tất cả kéo ra Đà Nẵng, cùng với nhân dân Đà Nẵng tạo thành đoàn người với khí thế rầm rộ. Băng, cờ, khẩu hiệu nêu rõ những yêu sách, nguyện vọng về tự do dân chủ, bình đẳng xã hội… khiến thực dân Pháp vô cùng lúng túng, hoảng sợ.

Tiếp đến, vào tháng 7 năm 1937, nhân dân làng Phong Lục nổi lên đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ đi xâu đào sông, buộc chính quyền phải hoãn xâu khi người dân đang vào vụ cày cấy. Cuối tháng 12 năm 1937, đoàn đường xe lửa qua làng Châu Lâu và một số đoạn khác bị sụt lỡ. Thực dân Pháp ra lệnh cho nhân dân đắp lại. Công việc quá nặng nhọc, trời lại mưa, lạnh, trong lúc bọn cai xếp luôn thúc dục, đánh đập, cúp phạt tàn nhẫn. Trước tình hình ấy, nhân dân Điện Thắng cùng với nhân dân các làng khác đứng lên đấu tranh chống lại. Cuối cùng, bọn cai xếp phải nhượng bộ, không dám đánh đập, cúp phạt. Đồng thời, chúng cũng bị buộc phải tăng tiền công nhật cho bà con.

Ngoài những cuộc đấu tranh trên, các đồng chí Phan Duy, Phan Hoan còn trực tiếp xuống các trường học để tuyên truyền, vận động học sinh. Thông qua đó, các đồng chí phát động phong trào chống mê tín dị đoan, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng. Tháng 2 năm 1938, cùng với thanh niên Điện Hòa, thanh niên Điện Thắng kéo nhau ra Đà Nẵng dự đám tang của chị Thái Thị Bôi, một tù chính trị chết vì những đòn tra trấn dã man của kẻ thù. Tháng 3 năm 1938, một số thanh niên có tư tưởng tiến bộ ở Phong Lục như Nguyễn Kiệm, Nguyễn Lự được đồng chí Nguyễn Mai tuyên truyền, giác ngộ và được kết nạp vào Đảng. Tháng 4 năm 1938, chi bộ Lục Giáp được thành lập, đánh dấu bước trưởng thành của phong trào cách mạng ở Điện Thắng.

Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Nước Pháp bị phát xít Đức tấn công. Ở Đông Dương, bọn phản động Pháp thi hành chính sách cai trị cực kỳ tàn bạo. Chúng ra sức cướp bóc kinh tế, ra sức bắt thanh niên đi lính làm bia đỡ đạn cho chúng, đàn áp các quyền tự do dân chủ. Mọi hình thức biểu tình, hội họp đều bị ghép vào tội phản quốc. Trước tình hình ấy, tháng 11 năm 1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp hội nghị lần thứ 6 nhận định cách mạng nước ta không còn trong giai đoạn đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ mà chuyển sang giai đoạn chuẩn bị những điều kiện tiến đến cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Chủ trương của Đảng vừa phổ biến đến một số đồng chí Tỉnh ủy Quảng Nam thì bị địch khủng bố. Hầu hết các đồng chí Tỉnh ủy viên và một số cán bộ, đảng viên, tù chính trị bị bắt. Tuy nhiên, cơ sở Đảng và cơ sở cách mạng ở nhiều phủ, huyện không bị vỡ.

Ở Điện Thắng, khi tình hình thay đổi, chi bộ Lục Giáp nhanh chóng rút vào hoạt động bí mật. Đồng thời, chi bộ cũng tăng cường hoạt động, phát triển tổ chức. Nhân ngày rằm tháng 7 năm 1940, chi bộ tổ chức đi thăm chùa Non Nước. Được tin, thanh niên các làng hăng hái tham gia. Nhằm che mắt kẻ thù, họ tổ chức thành từng nhóm nhỏ. Trên đường, họ hát hò khoan, bài chòi có nội dung yêu nước. Tại bãi cát làng Quán Khái, họ diễn vở kịch “Phiên tòa bất công” với hàm ý đả kích bọn quan lại, tố cáo chế độ thực dân phong kiến đàn áp dân lành. Tại Non Nước, chi bộ tổ chức một cuộc mít tinh nhỏ tại Vọng Hải Đài. Đồng chí Nguyễn Lự đứng lên nói chuyện với thanh niên về tình hình mới, những nhiệm vụ mới. Có thể nói, những hoạt động này đã góp phần tích cực tuyên truyền, vận động thanh niên Điện Thắng đến với cách mạng.

Sau chuyến thăm Non Nước, thực dân Pháp đánh hơi biết được. Chúng tổ chức lùng bắt những người cầm đầu. Nhưng, nhờ sự che chở của quần chúng, địch không bắt được ai. Chi bộ Lục Giáp vẫn đứng vững. Còn tại làng Viêm Tây, dưới sự lãnh đạo của các đồng chí Lê Đáng, Trần Dục, Trần Chức, bà con làm đơn kiện gởi lên phủ Điện Bàn tố cáo lý trưởng Lê Nhự chuyên quyền, áp bức nhân dân. Cuộc đấu tranh kéo dài mãi đến khi Lê Nhự bị cách chức vào đầu năm 1941.

Tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Xác định đường lối của cách mạng Việt Nam giai đoạn trước mắt là đánh đuổi Pháp, Nhật, Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hội nghị cũng chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh bao gồm các tổ chức quần chúng yêu nước, chống đế quốc, lấy tên là Hội Cứu quốc như Thanh niên Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc… Đồng thời, tổ chức các đội tự vệ cứu quốc, luyện tập quân sự, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền.

Tại Điện Thắng, phong trào phát triển mạnh. Trên cơ sở đó, chi bộ tiến hành tuyên truyền, vận động và kết nạp thêm các đồng chí Nguyễn Cự, Phan Á, Phan Tạo vào Đảng. Cuối năm 1941, nhân dân Thanh Quýt, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Hữu Hoàng, Nguyễn Hữu Huynh, Trương Công Tiền đã đứng lên kiện lý trưởng Phan Thúy Hoài. Lý do khi bán đất công ở Thanh Quýt, lý trưởng Phan Thúy Hoài cướp tất cả số tiền bán, không chia cho dân. Mặt khác, lúc phân cấp lại ruộng đất, lý trưởng Phan Thùy Hoài gian lận, làm thiệt hại đến quyền lợi của nhiều gia đình. Trước tinh thần đấu tranh kiên quyết của quần chúng, viên lý trưởng buộc phải chia lại ruộng đất. Mặc dầu vậy, lý trưởng Phan Thúy Hoài vẫn bị cách chức, Nguyễn Hữu Kỉnh lên thay.

Năm 1942, phát xít Nhật đem quân vào Điện Thắng. Từ đây, nhân dân phải sống một cổ ba tròng, bị áp bức bóc lột nặng nề. Để củng cố sự thống trị, phát xít Nhật tăng cường đàn áp, mở rộng địa bàn hoạt động. Chúng thành lập tổ chức thanh niên phản động do tên Việt gian Phan Anh cầm đầu để lôi kéo, dụ dỗ thanh niên làm bia đỡ đạn cho chúng và phá hoại các tổ chức cách mạng. Mặt khác, chúng phá chùa chiền, đình miếu, cày ủi mồ mả ở Trảng Nhật để xây dựng sân bay phục vụ chiến tranh. Phát xít Nhật còn thẳng tay đan áp phong trào cách mạng của nhân dân ta.

Đây cũng là lúc hàng loạt tổ chức Đảng ở Điện Bàn bị vỡ. Tuy nhiên, chi bộ Lục Giáp là 1 trong 2 chi bộ của Điện Bàn vẫn bảo toàn được lực lượng1. Trước những diễn biến của tình hình, chi bộ Đảng Lục Giáp đề ra nhiều biện pháp để đối phó. Chi bộ cử đồng chí Phan Tôn, một thanh niên có nhiều nhiệt huyết, có lòng yêu nước, gia nhập tổ chức thanh niên Phan Anh của phát xít Nhật. Sau khi nằm trong tổ chức thanh niên Phan Anh, đồng chí lợi dụng cơ hội tuyên truyền, vận động, giác ngộ thanh niên, làm cho họ hiểu được âm mưu thâm độc của kẻ thù. Nhờ vậy, tổ chức Phan Anh không gây được ảnh hưởng, tác hại gì lớn đối với phong trào cách mạng tại địa phương.

Tháng 3 năm 1943, bọn Nhật phá chùa Am Chuồng ở làng Viêm Tây. Chúng cày ủi mộ của dân. Bức xúc trước hành động ngang ngược ấy, các cụ phụ lão Viêm Tây, Bồ Mưng như Nguyễn Trác, Nguyễn Dĩnh, Nguyễn Hộ… vận động nhân dân nổi lên đấu tranh. Chẳng mấy chốc, cuộc đấu tranh đã lôi cuốn hàng trăm người. Nhiều mẹ, chị đã đem theo con nhỏ để tăng thêm sức mạnh. Trước khí thế đấu tranh hừng hực của quần chúng. Bọn Nhật không còn cách nào khác phải nhượng bộ. Chúng đành phải bồi thường phí tổn bốc mộ, trả tiền di chuyển chùa Am Chuồng về nhập với chùa Từ Quang.

Đầu năm 1944, nhân dân các làng Bồ Mưng, Viêm Tây đấu tranh không chịu đi xâu cho Nhật. Bọn Nhật chặt cây, phá vườn của dân. Đồng thời, chúng giở mọi thủ đoạn để hăm dọa. Thế nhưng, nhân dân vẫn đấu tranh cương quyết, không chịu lùi bước. Tức tối, bọn phát xít Nhật cho bọn tay sai đánh chết ông Lê Nại, người làng Thanh Quýt và anh Nguyễn Bùi, người làng Thanh Tú ngay tại chỗ hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh của quần chúng. Tuy nhiên, sự khủng bố, đàn áp dã man của địch không những không làm cho nhân dân hoảng sợ mà còn làm cho họ căm phẫn tột độ, kiên quyết đấu tranh, buộc chúng phải chùn bước, nhượng bộ trước một số yêu sách của nhân dân.

Bên cạnh tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh trực diện với kẻ thù, chi bộ Lục Giáp còn tổ chức, lãnh đạo nhân dân tham gia các hoạt động thể dục thể thao, ủng hộ phong trào bài trừ mê tín dị đoan, những hủ tục lạc hậu. Đặc biệt, thông quá các phong trào, các hoạt động thể dục thể thao này, chi bộ từng bước tổ chức diễn thuyết, nói chuyện về tình hình thế giới và trong nước. Trên cơ sở đó, chi bộ bồi dưỡng, giáo dục, giác ngộ quần chúng, làm cho mọi người hiểu rõ bối cảnh tình hình, sẵn sàng tham gia cách mạng, tham gia các cuộc đấu tranh. Đi đầu trong các hoạt động, các phong trào này là các đồng chí Nguyễn Kế ở Viêm Tây, Hà Sửu ở Phong Ngũ, Nguyễn Văn Quang ở Bồ Mưng.

Đầu năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới có những chuyển biến có tính bước ngoặc. Số phận của phát xít Đức, phát xít Ý đã được định đoạt. Ở châu Á, phát xít Nhật điên cuồng khủng bố để che giấu sự thất bại đã đến rất gần. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật bất thần đảo chính Pháp. Trước tình hình ấy, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã kịp thời ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Trung ương chủ trương thay khẩu hiệu “Đánh đuổi Nhật, Pháp” trước đây bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”, dự kiến

khả năng nổ ra cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Trung ương cũng phát động “…cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”1.

Ở Điện Thắng, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, phong trào cách mạng lên cao. Nhân dân các làng, xã gấp rút chuẩn bị lực lượng, khôi phục và phát triển các tổ chức cứu quốc, thành lập các đội tự vệ bí mật. Đây cũng là lúc chi bộ ra sức tuyên truyền, vận động mọi người sẵn sàng khởi nghĩa, đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân khi thời cơ đến. Ở các làng, ủy ban cứu quốc được thành lập. nhiều cuộc mit tình đông đến 200, 300 người đã được tổ chức. Đặc biệt tin tức về cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, từ Việt Bắc dồn dập truyền về khiến nhân dân càng thêm phấn khởi. Các tầng lớp quan lại, chức sắc, lý trưởng rơi vào hoang mang, khiếp sợ. Chúng không còn dám tỏ thái độ hốc hách như trước.

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Thời cơ đã chín muồi. Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định tổng khởi nghĩa. Tại Điện Bàn, Ủy ban Bạo động phủ được thành lập. Còn tại các làng, ủy ban cứu quốc được đổi thành ủy ban bạo động. Theo thông báo của Ủy ban Bạo động phủ, các xã phải huy động quần chúng đúng sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945 đồng loạt xuống đường biểu tình thị uy trong toàn phủ. Chấp hành chỉ thị của cấp trên, các làng ở Điện Thắng tích cực tuyên truyền, vận động bà con luôn trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Tối ngày 17 tháng 8 năm 1945, Tỉnh ủy Quảng Nam phát lệnh khởi nghĩa toàn tỉnh. Được lệnh, nhân dân Điện Thắng tập trung trước chùa Từ Quang, kết hợp với nhân dân các làng, xã khác. Trên tay ai cũng cầm giáo, mác, gậy gộc với khí thế bừng bừng.

Mờ sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945, nhân dân Điện Thắng cùng nhân dân các làng rầm rập kéo lên phủ đường Điện Bàn. Trên đường đi, họ nhận được lệnh “cây lớn hạ trước”, nghĩa là phải diệt trừ bọn Việt gian ở phủ huyện trước. Thế nhưng, do hiểu nhầm nên bao nhiêu cây lớn trên đường đi đều bị triệt hạ. Đoàn người càng tiến đến gần phủ huyện càng lôi cuốn nhiều người khác tham gia. Họ vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu “Đả đảo chính phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim”, “Ủng hộ Việt Minh”. Khi đến Giáp Ba, đoàn biểu tình gặp đoàn xe Nhật. Hoảng sợ trước khí thế cách mạng sục sôi của quần chúng, lại bị cây cối đổ ngổn ngang trên đường không thể tiến lên được, quân Nhật phải dừng lại. Một số tự vệ thấy xe Nhật dừng lại, hăng hái xông vào đâm thủng lốp xe và leo lên xe chém Nhật, cướp vũ khí. Quân Nhật bắn xối xả vào lực lượng khởi nghĩa. Nhiều người đã ngã xuống như Trần Kinh ở Viêm Tây, Hà Thanh, Hà Sửu ở Phong Lục… Khi đó, quần chúng chạy tản ra. Quân Nhật đẩy cây rồi chạy ra Đà Nẵng.

Trưa ngày 18 tháng 8 năm 1945, hàng vạn người đã kéo xuống mit tinh ở Vĩnh Điện. Cờ đỏ sao vàng tung bay khắp nơi. Tên tri phủ và bọn quan lại phải giao nộp ấn tín, súng ống cho cách mạng. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, sau khi giành được chính quyền ở phủ, theo chỉ thị của Ủy ban Việt Minh phủ, quần chúng trở về địa phương, thành lập chính quyền mới ở xã, thôn. Bấy giờ, bọn tay sai của chính phủ Trần Trọng Kim và bọn hào lý đều run sợ, không dám chống đối.

Tại Điện Thắng, nhân dân kéo đến các đình làng, bầu những đại biểu ưu tú để lãnh đạo chính quyền cách mạng tại địa phương. Ở Bồ Mưng có các ông Nguyễn Văn Quảng, Nguyễn Đức Ân, Nguyễn Đăng Trình. Ở Viêm Tây có các ông Ngô Kế, Ngô Toán, Ngô Xưng. Ở Phong Lục có các ông Phan Huỳnh, Nguyễn Trọng Sâm, Nguyễn Phát. Ở Thanh Quýt có các ông Nguyễn Bá Kế, Lê Tự Kình. Ở An Thanh có các ông Nguyễn Trung Chính, Huỳnh Cân. Ở Phong Ngũ có ông Hà Dân… Đó là những đại niểu được nhân dân tuyển chọn, đứng ra đảm nhiệm những vị trí chủ chốt trong các ủy ban nhân dân lâm thời các làng trên địa bàn xã Điện Thắng.

CHƯƠNG HAI:

ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN ĐIỆN THẮNG

RA SỨC XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ NHÂN DÂN,

TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN

CHỐNG PHÁP (1945 – 1954)

I- XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ NHÂN DÂN, CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 – 1946):

Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, nhân dân ta hưởng độc lập chưa được bao lâu thì thực dân Pháp lăm le trở lại xâm lược Việt Nam. Tháng 9 năm 1945, với danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, hơn 3000 quân thuộc Quân đoàn 60 Tưởng Giới Thạch đã vào Đà Nẵng, Hội An, Vĩnh Điện. Hàng ngày, ta phải cung cấp lương thực, thực phẩm cho chúng. Đáng chú ý, quân Tưởng có âm mưu chiếm đóng lâu dài đất nước ta. Chúng tìm mọi cách tiêu diệt Đảng Cộng sản, giúp bọn Quốc Dân đảng, bọn phản cách mạng giành chính quyền để làm tay sai cho chúng. Dựa vào quân Tưởng, bọn Quốc Dân đảng lén lút tổ chức hoạt động ở một số nơi. Công tác bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, bảo vệ trật tự trị an cũng gặp rất khó khăn, phức tạp.

Ngày 25 tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”. Chỉ thị chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam lúc ấy “là phải củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân”1. Tiếp đến, Tỉnh ủy Quảng Nam họp hội nghị, đề ra chủ trương củng cố hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng. Hội nghị cũng quyết định những công tác cấp bách, đẩy mạnh việc phát huy tinh thần yêu nước của quần chúng, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Chấp hành Chỉ thị của Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Huyện ủy Điện Bàn, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời huyện chỉ đạo chính quyền các xã gấp rút giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách của cách mạng.

Ở Điện Thắng, sau khi thành lập ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời, theo chủ trương của trên, các xã tiến hành thành lập uỷ ban Việt Minh và bầu ban chấp hành các đoàn thể cứu quốc như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Lão thành cứu quốc… Mỗi đoàn thể căn cứ vào chương trình, điều lệ của Việt Minh đẩy mạnh hoạt động, nhất là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tuyên truyền kết nạp hội viên, vận động hội viên hăng hải tham gia các phong trào hành động cách mạng tại địa phương. Cũng trong khoảng thời gian này, cán bộ các đoàn thể cứu quốc ở phủ, huyện, tổng đã về Điện Thắng tổ chức các lớp huấn luyện, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ các làng nắm được nội dung, hình thức vận động quần chúng, đưa phong trào và hoạt động của các đoàn thể cứu quốc ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ chính trị đặt ra.

Cũng trong thời gian này, Điện Thắng thực hiện nhiều chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, mặc dù chính quyền nhân dân được thành lập nhưng ruộng đất vẫn còn nằm trong tay địa chủ, phú nông. Do đó, chính quyền đã tiến hành thu hồi số ruộng đất công bị bao chiếm, bao tá, xúc tiến việc chia lại ruộng đất, công điền, công thổ cho nhân dân từ 18 tuổi trở lên. Đồng thời, ta cũng xóa bỏ những thứ thuế bất hợp lý, ra sức bài trừ nạn cờ bạc, rượu chè, những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan. Đối với bọn hào lý và hương kiểm cũ, sau khi tịch thu toàn bộ sổ sách, giấy tờ, ta tiến hành giáo dục tại chỗ cho những kẻ lầm đường lạc lối. Đối với bọn ngoan cố, ta kiểm soát chặt chẽ, không cho chúng phá hoại an ninh chính trị. Một số phần tử nguy hiểm, có nhiều nợ máu với nhân dân như Lê Nhự ở Viêm Tây, Phan Du, Xã Nhạn ở Phong Lục… ta tiến hành trừng trị hoặc bắt giam, đưa lên trên xử lý.

Nhằm thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch về việc chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, ủy ban nhân dân lâm thời các làng ở Điện Thắng tích cực vận động nhân dân hăng hái tăng gia sản xuất, thực hiện khẩu hiệu “Tấc đất tấc vàng”, không để diễn ra hiện tượng hoang hóa. Chính quyền quyết định giảm 25% thuế điền thổ. Phong trào khai hoang, vỡ hóa trở thành phong trào quần chúng, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Bà con tận dụng từng mét đất, thẻo đất trống trồng rau màu, các loại cây lương thực chống đói. Cùng với việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất, để cứu đói, tất cả 6 thôn ở Điện Thắng đều có nhiều sáng kiến cứu đói, từ lập hũ gạo cứu đói đến thực hiện ngày đồng tâm, nhịn ăn, tổ chức các đoàn thể cứu đói để tiết kiệm lương thực, gửi ra ủng hộ đồng bào miền Bắc, cứu trợ những gia đình khó khăn.

Cùng với phong trào chống giặc đói là chống giặc dốt. Do chính sách ngu dân của thực dân Pháp, cũng như nhiều nơi khác, sau khi giành được chính quyền, ở Điện Thắng có 90% dân số mù chữ. Cho nên, xóa mù chữ là công tác vô cùng quan trọng của chính quyền cách mạng. Trên cơ sở đó, phong trào “Bình dân học vụ” trở thành phong trào quần chúng rộng khắp. Mỗi thôn đều có một lớp học. Các cụ già và thiếu niên được ưu tiên học ban ngày. Lớp ban đêm dành cho những người ban ngày phải tăng gia sản xuất hay làm những việc khác. Để động viên, cổ vũ nhân dân hăng hái tham gia học ở các lớ bình dân học vụ, ngoài những câu hát theo vần cho dễ nhớ khá phổ biến lúc bấy giờ như “o tròn như quả trứng gà/ ô thì đội mũ, ơ thời thêm râu…”, ở Điện Thắng lại có bài vè nói lên sự cần thiết phải học chữ quốc ngữ “Nếu rằng cùng cực/ Mà lại bỏ qua/ Nếu ỷ mình già/ Mà không nghĩ đến/ Học hành lơ đễnh/ Là tội rất to…”.

Đồng thời, nhiều biện pháp được áp dụng để duy trì nề nếp các lớp học. Đường vào thôn, xã đều có trạm kiểm tra. Ai đọc được chữ mới cho đi qua. Ai không đọc được phải quay về hoặc đi tránh qua ngả khác. Nhờ những biện pháp ấy, công tác xóa mù chữ đạt được kết quả đáng phấn khởi. Đa số bà con đều biết đọc, biết viết. Có thể nói, đây là một trong những mặt hoạt động nổi bật của chính quyền cách mạng ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Cùng với phong trào diệt giặc dốt, ta cũng tuyên truyền, vận động nhân dân xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, thực hiện nam nữ bình đẳng, xây dựng nếp sống mới, tạo không khí sinh hoạt vui tươi, lành mạnh trong từng thôn, xóm.

Trong ba loại giặc, chống giặc ngoại xâm quan trọng nhất. Ý thức được tầm quan trọng trong công tác chống giặc ngoại xâm, ngay sau cách mạng thành công, ủy ban nhân dân cách mạng lầm thời các xã ở Điện Thắng luôn chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang. Trên cơ sở đó, chính quyền động viên thanh niên nam nữ gia nhập lực lượng dân quân tự vệ. Mỗi xã đều thành lập một trung đội tự vệ làm nòng cốt. Các đơn vị dân quân tự vệ tự mình trang bị vũ khí. Lúc đầu, anh chị em chủ yếu trang bị gậy gộc, dáo, mác. Các lò rèn ở Thanh Quýt, Viêm Tây ngày đêm đỏ lửa để rèn dao, kiếm, dáo, mác trang bị cho lực lượng tự vệ. Việc học võ trở thành phong trào sôi nổi. Già trẻ, trai gái say sưa tập luyện. Địa điểm tập thường diễn ra ở Gò Phật. Khung cảnh tập luyện nhiều lúc rất sôi nổi, hào hứng nhất là vào những đêm trăng sáng hay những buổi chiều tối. Đặc biệt, ngay trong tháng 9 năm 1945, đã có 3 thanh niên ở Viêm Tây và An Thanh lên đường tham gia giải phóng quân, có mặt trong những đơn vị quân chủ lực đầu tiên của tỉnh.

Một trong những phong trào sôi nổi sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công là phong trào tham gia quyên góp ủng hộ cho công cuộc kháng chiến kiến quốc. Đó là cuộc phong trào “Tuần lễ đồng”, “Tuần lễ vàng” diễn ra vào đầu tháng 9 năm 1945. Trong “Tuần lễ đồng”, ở các xã Điện Thắng ai có vật dụng gì bằng đồng như nồi đồng, mâm đồng, thau đồng… đều đem ra quyên góp. Trong những ngày này, đi đến đâu, cũng nghe bà con truyền nhau “Một nồi đồng đúc mười viên đạn/ Trăm viên đạn giết vạn thằng Tây/ Ai ơi có biết có hay”. Hay là bài “Vè quyên góp” có những câu như “Thà rằng mâm gỗ niêu sành/ Quạt mo mà lập mà thành tự do/ Muôn đời hạnh phúc ấm no hòa bình/ Còn hơn không nỡ dứt tình/ Nồi đồng, xanh vạc mà thành ngựa trâu”. Cùng với “Tuần lễ đồng”, trong “Tuần lễ vàng” phong trào cũng diễn ra sôi nổi. Nhân dân các làng ai có vàng góp vàng, ai có tiền góp tiền. Nhiều mẹ, chị mang những vật kỉ niệm quí giá của gia đình như đôi hoa tai, chiếc nhẫn cưới… đến ủng hộ cách mạng. Có thể nói, sự thành công của phong trào “Tuần lễ đồng”, “Tuần lễ vàng” ở Điện Thắng đã nói lên tinh thần yêu nước của người dân địa phương.

Phát triển Đảng là công tác quan trọng, luôn được tổ chức Đảng ở Điện Thắng chú trọng. Thông qua các hoạt động, các phong trào, chi bộ kịp thời phát hiện, bồi dưỡng nhiều thanh niên tốt để kết nạp vào Đảng. Nhờ làm tốt công tác phát triển Đảng, tính đến cuối năm 1945, ở Điện Thắng đã có hai chi bộ là chi bộ ở Viêm Tây do đồng chí Trương Thành làm Bí thư và chi bộ ở Thanh An do đồng chí Lê Tự Kình làm Bí thư. Ở Châu Phong, gồm Phong Lục và Phong Ngũ, cũng thành lập được tổ Đảng trực thuộc do đồng chí Nguyễn Trọng Sâm làm tổ trưởng. Nhìn chung, các đồng chí đảng viên ở các địa phương đã thể hiện đúng vai trò, vị trí tiền phong của mình trong các hoạt động và phong trào cách mạng sôi nổi tại địa phương.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, hòa trong không khí phấn khởi chung của cả nước, bà con các xã của Điện Thắng nô nức thực hiện quyền làm chủ đất nước thông qua việc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Để cuộc bầu cử tại địa phương đạt kết quả tốt, dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, của chính quyền và của Mặt trận Việt Minh, công tác tổ chức tuyên truyền được chú trọng. Ngoài băng rôn, khẩu hiệu, cờ đỏ… nhiều bài vè, câu hát, câu đối được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong các doàn thể quần chúng như Thanh niên cứu quốc, Nôn. Nội dung nhằm ủng hộ những ứng cử viên của Mặt trận Việt Minh“Đồng bào ơi tổng tuyển cử đến rồi/ Quốc dân đại hội ai thay đồng bào/ Trần Tống, Lê Hiến, Phan Thao/ Phan Bôi, Võ Sạ đồng bào ký đi…”. Đến ngày bầu cử, ngay sáng sớm, bà con, bất kể nam hay nữ, đã nô nức nối đuôi nhau đến các địa điểm bỏ phiếu.

Có thể nói, trong những ngày bầu cử, mặc dù bọn phản động ra sức phá hoại nhưng nhờ công tyacs chuẩn bị chu đáo, đã có khoảng 1000 cử tri nam nữ ở Điện Thắng tham gia bầu cử. Đáng chú ý, những người do Uỷ ban Việt Minh đề cử ở đơn vị bầu cử khu vực này đều trúng cử với số phiếu rất cao. Sau Sau cuộc bầu cử Quốc hội, để thống nhất tổ chức hành chính trong phạm vi cả nước, Chính phủ có một số điều chỉnh quan trọng. Đầu tiên, đơn vị hành chính cấp phủ được đổi thành huyện. Phủ Điện Bàn bấy giờ trở thành huyện Điện Bàn. Đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ. Dưới huyện là xã.

Cũng theo chủ trương của Trung ương, tỉnh Quảng Nam đã tiến hành hợp xã lần thứ nhất. Ở Điện Thắng, 6 xã cũ hợp nhất thành 3 xã mới. Hai xã cũ Bồ Mưng và Viêm Tây sáp nhập lại thành xã mới Bồ Viêm. Hai xã cũ Thanh Quýt, Thanh Tú và An Tự sáp nhập thành xã mới Thanh An. Hai xã cũ Phong Ngũ và Phong Lục sáp nhập lại thành xã mới Châu Phong. Tiếp đến, vào ngày 17 tháng 2 năm 1946, là cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh và Hội đồng nhân dân xã. Cuộc bầu cử được tiến hành có quy củ và đã thành công tốt đẹp. Cũng như nhiều làng xã khác, nhân dân ba xã mới hăng hái tham gia bầu cử, lựa chọn những đại biểu xứng đáng vào Hội đồng nhân dân tỉnh như các đồng chí Nguyễn Thuý, Lê Văn Nghĩa, Nguyễn Tụy… Còn trong cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân xã, tại xã Bồ Viêm, ông Ngô Kế được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính xã. Tại xã Thanh An, ông Nguyễn Trung Chính làm Chủ tịch. Tại Châu Phong, ông Phan Huỳnh làm Chủ tịch. Phó Chủ tịch là ông Hà Châu.

Trong lúc này, tình hình trong nước có nhiều chuyển biến quan trọng. Để loại bỏ 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch ra khỏi nước ta, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Theo tinh thần Hiệp định, tại Đà Nẵng, sẽ có 1000 quân Pháp đến để “tiếp phòng” thay thế quân Tưởng. Tuy nhiên, khi vào Đà Nẵng, quân Pháp không chịu tôn trọng những quy định theo Hiệp định sơ bộ. Chúng ngang nhiên tăng quân và vũ khí trái phép, móc nối với số quan lại, tay sai cũ, tổ chức mạng lưới tình báo, rải truyền đơn kích động đồng bào ta chống lại chính quyền cách mạng.

Trước những diễn biến vô cùng phức tạp của tình hình, được sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Điện Bàn, nhân dân các xã Bồ Viêm, Thanh An, Châu Phong tích cực chuẩn bị mọi mặt cho công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cùng với việc tuyên truyền, vận động thanh niên nam nữ hăng hái gia nhập lực lượng dân quân tự vệ, các xã tiến hành thành lập ban chỉ huy quân sự, tăng cường huấn luyện các đội tự vệ, tổ chức tuần tra canh gác suốt ngày đêm. Đặc biệt, đây là lúc các lò rèn được huy động ngày đêm rèn vũ khí trang bị cho lực lượng tự vệ. Cả xã như một công binh xưởng. Một số anh chị em tự vệ xuất sắc, có năng lực, được lựa chọn cử đi học lớp an ninh quân sự do huyện mở tại Trảng Nhật. Riêng tại xã Châu Phong, ta cũng mở mọt lớp huấn luyện quân sự do các anh Nguyễn Kiệm, Đỗ Kiếm và Đỗ Đông phụ trách. Ngoài việc luyện tập những động tác cơ bản trong chiến đấu, anh chị em còn được học thêm về tính năng chiến đấu của một số loại vũ khí phổ biến lúc bấy giờ, những hình thức chủ yếu của phương pháp đánh du kích, cách đánh phối hợp với lực lượng bộ đội chính quy.

Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cũng được tổ chức cơ sở Đảng chú trọng. Các chi bộ bàn bạc cụ thể những phương án sơ tán, tản cư, phân công cán bộ, đảng viên ai đưa dân đi, ai ở lại bám trụ, phối hợp chiến đấu… Đối với một số phần tử trước đây có quan hệ với địch, chi bộ tổ chức gặp gỡ, giáo dục. Những tên có biểu hiện chống đối, ta răn đe, cảnh cáo đề phòng chúng tiếp tay cho địch. Lúc này, tư tưởng của một bộ phận quần chúng dao động, ít nhiều mất niềm tin vào sự tồn tại của chính quyền cách mạng. Nắm được những diễn biến của tình hình, chi bộ tổ chức nhiều cuộc mit tinh, nói chuyện thời sự, phân tích cho mọi người thấy rõ quyết tâm của Đảng và Chính phủ trong việc bảo vệ độc lập, tự do, kiên quyết đánh đuổi thực dân Pháp. Nhờ những biện pháp kịp thời ấy, chi bộ từng bước củng cố niềm tin của nhân dân Điện Thắng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.

Cuối năm 1946, tình hình mỗi lúc một thêm căng thẳng. Thực dân Pháp liên tiếp tăng quân. Ngày 20 tháng 11, chúng đánh chiếm Hải Phòng. Ngày 18 tháng 12, chúng ngang ngược gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi tước vũ khí của lực lượng tự vệ Hà Nội… Trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình, trong hai ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp, quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc. Sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phải, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có sứng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực Pháp cứu nước…”1.

Ở Đà Nẵng, 8 giờ sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946, tiếng súng đánh địch nổ vang khắp thành phố. Sau một tháng kiên cường giam chân địch ở nội thành, để bảo toàn lực lượng, quân ta được lệnh rút lui vào phía Nam sông Cẩm Lệ. Trong thời gian nổ ra chiến sự, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Điện Bàn, công tác chuẩn bị kháng chiến ở Điện Thắng được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Đặc biệt, 3 xã Bồ Viêm, Thanh An và Châu Phong vinh dự cử gần một trung đội du kích ra góp sức với trung đoàn chủ lực xây dựng phòng tuyến chốt giữ bờ Nam sông Cẩm Lệ. Trong số đó, có các đồng chí Ngô Dinh, Nguyễn Văn Ngạnh, Trần Át, Nguyễn Văn Cứ, Nguyễn Đức Mẹo… Ngày 3 tháng 3 năm 1947, sau khi củng cố lực lượng và có thêm viện binh từ Pháp sang, thực dân Pháp mở cuộc tấn công lớn đánh vào phòng tuyến của ta. Trung đội du kích Điện Thắng đã sát cánh cùng tiểu đoàn 17 kiên cường chiến đấu, tiêu diệt nhiều tên địch. Trong trận đánh này, đồng chí Nguyễn Hữu Hướng đã anh dũng hy sinh. Đồng chí là liệt sĩ đầu tiên của Điện Thắng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Khi mặt trận Cẩm Lệ vỡ, thực dân Pháp ồ ạt tràn qua Hòa Vang, kéo vào huyện Điện Bàn. Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, nhân dân Điện Thắng được lệnh đi tản cư. Phần lớn những cụ già, trẻ em đã được tản cư ra Phú Bông, Gò Nổi. Ở địa phương, chỉ còn lực lượng tự vệ, tiêu biểu như các đồng chí Trần Át, Ngô Huynh ở Viêm Tây, Lê Tự Kình, Nguyễn Hữu Ích ở Thanh Quýt… bám trụ ở lại giữ đất, giữ làng, tổ chức đánh du kích, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Có thể nói, những ngày tản cư xa quê là những ngày bà con chịu đựng nhiều gian khổ, nhiều lúc sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Lắm khi vừa chạy giặc, bà con vừa lo tránh máy bay địch đang quần trên bầu trời, sẵn sàng ném bom, giết hại dân lành. Trong hoàn cảnh đó, bà con đã đoàn kết, đùm bọc, yêu thương lẫn nhau để cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong buổi đầu chống Pháp trở lại xâm lược Việt Nam.

II- ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH DU KÍCH, TÍCH CỰC TIÊU HAO, TIÊU DIỆT SINH LỰC ĐICH (1947- 1949):

Khi thực dân Pháp tấn công Điện Thắng, nhờ có công tác chuẩn bị tư tưởng, chuẩn bị kháng chiến chu đáo nên cán bộ, đảng viên và nhân dân không bị bất ngờ. Ngoài bộ phận cán bộ, du kích đi theo bảo vệ đồng bào tản cư tránh giặc, những cán bộ, đảng viên còn bám trụ như các đồng chí Lê Tự Kình, Nguyễn Trung Chính, Trương Công Xăng, Nguyễn Hữu Xích, Nguyễn Hữu Mỹ, Trần Đinh… đứng ra chỉ huy, đốc thúc anh em du kích đắp ụ, dựng chướng ngại vật trên đường, trên các lối đi vào làng nhằm cản trở bước tiến của địch. Trong lúc đó, đội xung kích tích cực đốt cầu Thanh Quýt, phá nhiều đoạn đường, ngăn chặn kịp thời một số tên tề ngụy làm tay sai cho địch. Đồng thời, đây cũng là lúc cán bộ, đảng viên đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ quần chúng ủng hộ công cuộc kháng chiến. Trừ một số ít tên tay sai và một số phần tử thoái hóa, biến chất, còn tuyệt đại đa số nhân dân vẫn trung thành với Đảng, với Chính phủ, sẵn sàng chờ thời cơ tiêu diệt địch, bảo vệ quê hương.

Ngày 4 tháng 3 năm 1947, những đơn vị lính Pháp đầu tiên tiến chiếm địa bàn xã Điện Thắng. Chúng rất hung hăng, nổ súng uy hiếp nhân dân, đốt nhiều nhà cửa ở Bồ Mưng, Viêm Tây. Sau đó, chúng chốt lại một trung đội đóng ở nhà Hương Sen làng Phong Ngũ. Thời gian này, chúng liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, lùng sục vào các thôn Bồ Mưng, Viêm Tây, Thanh Tú, An Tự, Phong Ngũ, Phong Lục. Lúc này, đồng bào đi tản cư chưa về. Địch vào làng thấy vằng vẻ vì tất cả bà con đều triệt để tản cư, thực hiện “vườn không nhà trống” theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến của Đảng. Tức tối, chúng phóng lửa đốt những nhà không có người ở, bắn giết trâu bò, phá nát ruộng vườn, cướp bóc của cải.

Tiếp đến, vào tháng 4 năm 1947, khi có lệnh hồi cư, nhân dân lần lượt trở về. Trừ một số gia đình bị địch cướp, đốt, mang đi tất cả tài sản, còn hầu hết đều nguyên vẹn. Đó là sự thành công của cán bộ, đảng viên, những người được phân công ở lại bám trụ chiến đấu đã bảo vệ tốt tài sản, vườn tược cho những gia đình đi tản cư theo chủ trương của Đảng và chính phủ trong những ngày đầu kháng chiến. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, đời sống nhân dân hết sức khó khăn. Nạn đói đe dọa. Nhiều gia đình ở Phong Ngũ, Phong Lục phải ăn thêm cây chuối, khoai rễ thay cơm. Điều đáng quý, trong tình cảnh ấy, đồng bào biết giúp đỡ, tương thân tương trợ lẫn nhau nên không có gia đình nào bị chết đói.

Bên cạnh nạn đói là dịch bệnh, nhất là sốt rét hoành hành ghê gớm. Ở Điện Thắng có gần 80 người chết vì bệnh tật. Có gia đình như gia đình chị Trần Thị Hường ở Viêm Tây có 6 người thì đã có 5 người chết. Để kịp thời cứu đói, dưới sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng, của chính quyền cách mạng, nhân dân triệt để thực hiện khẩu hiệu “không bỏ một tác đất hoang”. Nhiều thôn tự động thành lập những tổ vần công, đổi công, giúp đỡ nhau trong sản xuất. Thiếu sức kéo, nhà có trâu bò giúp nhà không có trâu bò cày. Nhờ vậy, sản xuất được phục hồi. Nhân dân Điện Thắng từng bước vượt qua nạn đói, tích cực đóng góp cho kháng chiến.

Về phần thực dân Pháp, sau khi đóng chốt ở nhà Hương Sen làng Phong Ngũ một thời gian, chúng tiến hành xây dựng một cái đồn khá kiên cố nằm dọc đường quốc lộ 1 gọi là đồn Ngũ Giáp và chuyển quân đến đó. Đồn Ngũ Giáp được trang bị hỏa lực rất mạnh, có cả cối 81, nhiều súng máy. Hai trung đội địch thường xuyên chốt giữ đồn. Có thể nói, Ngũ Giáp là chỗ dựa, cứ điểm xuất phát để từ đó địch tổ chức càn quét, phục kích các địa điểm xung quanh và là lực lương chủ yếu bảo vệ cầu Thanh Quýt và khu Chiêu An sau này.

Cùng với việc lập đồn, thực dân Pháp ráo riết lập bộ máy tề ngụy nhằm mượn bọn tay sai đàn áp nhân dân, lùng bắt những người cộng sản. Chúng đưa tên Nguyễn Hữu Tuân và Nguyễn Văn Mai làm chánh và phó tổng Thanh Quýt. Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn tổ chức đội “Nghĩa dũng” gần 40 tên làm nòng cốt hỗ trợ cho bọ tề ngụy kèm kẹp, áo bức bà con. Đáng chú ý, trong các trận càn, chúng sử dụng bọn tay sai làm nhiệm vụ dẫn đường. Đi đến đâu, chúng cũng cướp của cải, trâu bò của nhân dân. Khi người dân hồi cư, trở về làng cũ, thực dân Pháp bắt dân rào làng. Mỗi nhà phải sắm sửa trống mõ để khi phát hiện có cán bộ, đảng viên về làng gõ mõ, báo động cho chúng biết. Đây là thời điểm địch khống chế, kèm kẹp vùng Thanh Quýt khá chặt. Ở những thôn còn lại, chúng chỉ kiểm soát trên danh nghĩa. Thực tế, các tổ chức cơ sở Đảng, tổ chức chính quyền của cách mạng hầu như vẫn còn nguyên vẹn.

Tháng 5 năm 1947, một số tiểu đội Pháp đi lùng sục ở Phong Lục. Bà con đang làm thủy lợi phát hiện được. Mọi người chóng báo tin cho nhân dân trong làng. Thế là mọi người nổi trống ầm ĩ. Địch tưởng có bộ đội nằm chờ ở đây nên không dám tiến vào. Bất ngờ, có một tên thiếu úy hung hăng đi tới. Lúc đó, hai anh em Đỗ Đây và Phan Thử đang làm nương, chờ tên Pháp đi qua, vốc bùn ném vào mặt nó, rồi nhanh như chớp xông lên vật xuống, đánh chết ngay tại chỗ, thu được một khẩu súng. Tuy chỉ diệt một tên Pháp nhưng đây là lần đầu tiên nhân dân Điện Thắng, bằng sự mưu trí, dũng cảm, tay không đánh địch và thắng địch. Có thể nói, thắng lợi này có ý nghĩa lớn, đã góp phần không nhỏ động viên tinh thần chống Pháp của nhân dân. Tiếp đến, tháng 7 năm 1947, có hai tên Pháp ra làng Viêm Tây tán tỉnh các cô gái. Hai tên này đi đã nhiều lần nên ta biết quy luật đi và về của chúng. Nhờ vậy, ta lên kế hoạch bố trí cho chị em phụ nữ nhử chúng ra để anh em du kích phục kích chém chết, dìm xác cả hai xuống sông.

Liên tiếp bị tổn thất, thực dân Pháp vô cùng tức tối, tìm mọi cách trả thù. Chỉ trong hai tháng, toàn xã có 12 thường dân vô tội bị chúng giết hại. Sự đàn áp dã man của kẻ thù nhằm thủ tiêu ý chí đấu tranh, đè bẹp tinh thần kháng chiến của nhân dân. Thế nhưng, sự khủng bố của kẻ thù càng làm đồng bào căm phẫn quân cướp nước. Họ sát cánh cùng cán bộ, đảng viên, du kích toàn xã quyết tâm chống Pháp cho đến ngày toàn thắng. Chúng cho quân tổ chức lùng sục ở hai thôn Bồ Mưng và Viêm Tây, lùa đi hơn 20 con trâu bò của dân. Trước thủ đoạn thâm hiểm của địch, chi bộ Đảng tập hợp quần chúng, vận động bà con đứng lên đấu tranh, chống việc bắt trâu bò, làm gián đoạn công việc làm ăn.

Được tuyên truyền, hướng dẫn, nhân dân kéo ra, cản đường, không cho chúng dắt trâu bò đi. Nhiều cụ già cãi lý với bọn chúng “Lính Tây đi đâu mất tích các ông đổ thừa cho chúng tôi, bắt trâu bò chúng tôi đi, chúng tôi lấy gì làm ăn nộp thuế cho chính phủ?”. Cuộc đấu tranh diễn ra quyết liệt. Cuối cùng, bọn Pháp phải nhượng bộ, trả lại trâu bò cho nhân dân. Thắng lợi của cuộc đấu tranh khiến bà con vô cùng phấn khởi. Thật ra, tuy nói là nộp thuế cho chính phủ nhưng bà con ở đây ai cũng biết là nộp thuế cho Chính phủ Hồ Chí Minh, không phải nộp cho chính phủ Pháp. Đây là cách trả lời khôn ngoan của cụ già.

Bấy giờ, trên phạm vi cả nước, với quân số đông, hỏa lực vượt hơn hẳn của ta nên thực dân Pháp làm chủ các chiến trường đồng bằng, lấn chiếm khắp nơi. Tình hình cách mạng Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Tại Điện Bàn, những cuộc càn quét liên miên của địch gây cho ta nhiều tổn thất. Đặc biệt, trong các trận càn, chúng sử dụng bọn chỉ điểm, dẫn đường cho thực dân Pháp bắn giết cán bộ, đảng viên. Ngày 16 tháng 11 năm 1947, thực dân Pháp càn quét các xã Minh Sơn, Bích Quang, Hà Thanh. Chúng đốt phá, bắn giết đồng bào ta một cách dã man, làm 50 đồng bào bị thiệt mạng. Được sự giúp đỡ, hỗ trợ của đồng bào, đội biệt động Điện Bàn phối hợp với dân quân du kích đánh diệt 17 tên lính Âu Phi.

Để trả thù đồng bào bị chúng giết hại, đồng thời cũng để củng cố phong trào, tạo niềm tin cho quần chúng, trấn áp những tên tề điệp phản cách mạng, Huyện ủy Điện Bàn quyết định đưa đội biệt động về Điện Thắng phối hợp 4 đồng chí du kích Thanh An, 5 đồng chí du kích Bồ Mưng, 3 đồng chí du kích Viêm Tây, 5 đồng chí du kích Thanh Quýt tiến hành diệt tề tại Thanh Quýt. Đây là một khu tế phản động điển hình ở Điện Bàn, nơi tập trung một số bọn ác ôn đầu sỏ. Bọn này thường đi theo lính Pháp trong các trận càn để cướp bóc, bắn giết cán bộ, đảng viên, giết hại dân lành.

Trận diệt tề được tổ chức, tính toán rất chu đáo theo đúng kế hoạch đã vạch ra. Một mặt, lực lượng ta ném lựu đạn, nã súng cối uy hiếp đồn Ngũ Giáp nhằm nghi binh, khiến chúng hoang mang, không dám chúng ứng cứu. Mặt khác, ta dùng loa thông báo đồng bào không đi lại lộn xộn, tránh bị thương tích. Bấy giờ, địch chủ quan, cho rằng lực lượng cách mạng yếu nên chúng ngủ phân tán, gây khó khăn cho kế hoạch tiến đánh của ta. Kết quả, ta tiêu diệt được 20 tên tề ngụy ác ôn, tay sai đắc lực cho thực dân Pháp. Trận đánh đã gây tiếng vang lớn, làm nức lòng nhân dân các xã, khiến kẻ thù khiếp sợ, không hung hăng như trước. Qua trận đánh, ta cũng phá được thế kèm kẹp. Một số kẻ xấu không dám tiếp tay địch. Phong trào cách mạng ở Điện Thắng có điều kiện phát triển mạnh hơn.

Cũng vào cuối năm 1947, để trả thù cho những tên lính Pháp và tay sai bị lực lượng ta tiêu diệt, thực dân Pháp đã đưa một lúc hơn 10 chiến sĩ vệ quốc đoàn về Điện Thắng chặt đầu, cắm cọc bên đường nhằm uy hiếp tinh thần cán bộ, đảng viên và nhân dân. Những hành động tàn ác, dã man của kẻ thù khiến mọi người căm phẫn. Ngay sau đó, trung đội du kích tập trung được thành lập. Nhiều gia đình đã gửi con em mình vào lực lượng du kích để bảo vệ xóm làng. Đội du kích và nhân dân đã tiến hành những trận phục kích, kết hợp với phá đường, buộc địch phải nhượng bộ cho ta chôn cất những anh em chiến sĩ vệ quốc đã bị chúng giết hại.

Phát huy thắng lợi, lực lượng ta liến tiếp mở nhiều trận diệt tề ngụy vào đầu năm 1948. Tại thôn Viêm Tây, lực lượng du kích trừng trị đích đáng 3 tên ác ôn Lê Nhự, Trần Dự và Trần Trợ. Tại Bồ Mưng, có tên chỉ điểm Nguyễn Tôn rất nguy hiểm. Y thường xuyên báo cho thực dân Pháp trú ở đồn Tứ Câu biết mọi hoạt động của cán bộ, đảng viên. Lực lượng ta lập phương án tiêu diệt Nguyễn Tôn đúng lúc y vừa đi trình báo tình hình cho địch từ đồn Tứ Câu về. Còn tại Phong Ngũ, ta dùng mỹ nhân kế giết chết phó tề tên Nhuận cùng 2 tên cận vệ đi theo hắn. Những trận đánh tề thắng lợi đã nói lên sự trưởng thành và khả năng chiến đấu của lực lượng du kích Điện Thắng. Trong số gần 40 anh em du kích các xã, nổi bật có các đồng chí Huỳnh Văn Cương, Nguyễn Lung, Trương Công Lố, Trần Phước Tố, Nguyễn Đăng Đèo và 2 anh em Lê Tự Hoàng. Càng về sau, địch càng càn quét dữ dội. Nhưng, các đồng chí đã phát huy tinh thần kiên cường, dũng cảm. Nhiều đồng chí đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ đất nước.

Có thể nói, qua một năm kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù địch huênh hoang rằng lực lượng cách mạng bị tiêu diệt gần hết, súng ống, đạn dược cũ kỹ, không phát huy tác dụng nhưng những trận diệt tề nhanh gọn chứng tỏ lực lượng ta không suy yếu mà ngày càng mạnh hơn. Tình hình ấy khiến nhân dân Điện Thắng vô cùng phấn khởi, tin tưởng vào cách mạng, vào mưu trí đánh địch của anh em du kích, của lực lượng Việt Minh. Riêng bọn tay sai luôn sống trong sự hoảng hốt, run sợ. Nhiều tên ác ôn không dám hung hăng. Số còn lại nằm im, không hoạt động đáng kể. Thậm chí, có một số tên tìm cách bắt liên lạc với ta. Nắm được tình hình, ta đề ra những yêu cầu, điều kiện với bọn lý trưởng, hội tề của địch, hướng dẫn nhân dân cử người của ta vào làm hội tề. Công tác này có tác dụng không nhỏ về sau, tạo điều kiện lực lượng cách mạng tổ chức đánh diệt các lô cốt của địch.

Năm 1948 cũng là năm đánh dấu những chuyển biến quan trọng về thế và lực giữa ta và địch. Trên thực tế, ta đã đập tan âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng. Ở chiến trường Việt Bắc, sau hai tháng càn quét, thực dân Pháp bị thiệt hại nặng, buộc phải rút quân. Trước tình hình ấy, bắt đầu giữa năm 1948, thực dân Pháp nhận thấy không thể tiêu diệt quân chủ lực ta bằng những cuộc hành quân lớn nên chúng phải chuyển hướng chiến lược. Từ mở rộng phạm vi chiếm đóng sang củng cố vùng chiếm đóng. Đồng thời, chúng cũng thay những cuộc hành quân lớn bằng những cuộc hành quân có quy mô nhỏ, dễ cơ động, nhằm phá hoại kinh tế và các cơ sở cách mạng, củng cố ngụy quyền, tăng cường bắt lính làm bia đỡ đạn cho chúng.

Tại chiến trường Quảng Nam, sau khi tiến qua Duy Xuyên, Điện Bàn, thực dân Pháp dừng lại ở phía Bắc sông Bà Rén, không thế tấn công vào Quế Sơn. Sự thay đổi này tạo điều kiện cho lực lượng ta phát huy thắng lợi đã giành được, tăng cường quấy rối, đánh tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Lấy lực lượng du kích làm nòng cốt, ta huy động quần chúng đem rơm rải các bờ rào làng, đồn địch rồi châm lửa đốt khiến chúng hoảng hốt, bắn vu vơ. Cũng có khi, ta tổ chức đánh trống, mõ ở làng khi không có cán bộ làm chúng hoang mang, lo sợ. Còn tại Điện Thắng, tháng 6 năm 1948, du kích Bồ Viêm do đồng chí Nguyễn Văn Cứ chỉ huy tổ chức một trận phục kích khi địch đi lùng. Kết quả, anh em đã diệt 2 tên địch, thu 2 khẩu súng. Đặc biệt, đồng chí Nguyễn Văn Cứ trong thời gian này nổi lên như một người chỉ huy tài giỏi, gan dạ và dũng cảm.

Về tổ chức Đảng, trong những năm từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1948, thông qua các phong trào thi đua, phong trào giết giặc lập công, tổ chức cơ sở Đảng ở Điện Thắng đã kịp thời phát hiện những thanh niên tích cực, có kế hoạch bồi dưỡng để kết nạp Đảng. Nhờ vậy, tính đến năm 1948, tổng số đảng viên đã lên 42 đồng chí, gấp gần 3 lần so với năm 19451. Sự phát triển đảng viên tạo điều kiện thúc đẩy phong trào cách mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp ngày càng đi vào chiều sâu, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từng bước đẩy địch vào thế bị động đối phó.

Từ giữa năm 1948, chấp hành chủ trương của Đảng, lực lượng bộ đội chủ lực phân tán thành các đại đội độc lập, đội vũ trang tuyên truyền, luồn sâu vào sau lưng địch, kết hợp tác chiến với vận động quần chúng, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, diệt tề trừ gian, chống âm mưu “bình định” của địch. Quán triệt chủ trương của Đảng, tại Điện Bàn, tháng 6 năm 1948, Đảng bộ thành lập đội chiến đấu của huyện. Trận đánh đầu tiên của đội diễn ra trên mảnh đất Điện Thắng. Phối hợp với lực lượng du kích và nhân dân xã Thanh An, anh em trong đội phân tán, cải trang như người đi làm đồng, tiêu diệt 3 tên lính Ma-rốc, giải thoát cho một phụ nữ bị chúng đang bị hãm hiếp.

Song song với việc tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, các xã cũng bắt đầu chú ý công tác binh vận. Tháng 8 năm 1948, dân quân Bồ Viêm tuyên truyền, vận động được hai thanh niên đi lính cho Pháp đang đóng ở đồn Tứ Câu tên là Phúc và Lịch. Hai thanh niên này đã tìm cách lấy 4 khẩu súng cùng một số đạn dược chuyển ra cho lực lượng du kích. Phong trào phá đường, gây khó khăn cho việc chuyển quân, đi lại của địch cũng phát triển khá mạnh. Cứ đêm đến, tự vệ và nhân dân lại bí mật phá từng đoạn đường. Thực dân Pháp tức tối, điên cuồng bắt một số người, giết chết bêu đầu, cắm cọc bên đường để uy hiếp tinh thần của nhân dân. Hành động dã man của chúng khiến quần chúng thêm phẫn nộ, căm thù, càng quyết tâm chống Pháp đến cùng.

Tháng 11 năm 1948, Huyện ủy Điện Bàn triệu tập chủ tịch ủy ban, bí thư chi bộ, tổ trưởng Đảng họp ở Cẩm Sa để phổ biến chủ trương hợp xã mới, đặt tên cho chi bộ mỗi xã, phổ biến tình hình nhiệm vụ mới cho cán bộ, đảng viên toàn huyện. Đây là chủ trương nhằm kiện toàn bộ máy xã thôn, tăng cường sự lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, động viên sức người sức của phục vụ cuộc kháng chiến lâu dài. Theo chỉ thị của Huyện ủy và Ủy ban Hành chính huyện, hai xã Bồ Mưng và Thanh An nhập với hai xã Bích Quang, Hà Thanh thành xã Điện Hòa. Như vậy, xã Điện Hòa có 8 thôn. Riêng các xã cũ của Điện Thắng có 4 thôn. Trong đó, Thanh Quýt là thôn 1, Thanh An và An Tự là thôn 2, Viêm Tây là thôn 3, Bồ Mưng là thôn 4. Xã Châu Phong nhập vào xã Điện An. Hai thôn Phong Ngũ và Phong Lục là thôn 3 và thôn 4 của xã này.

Cùng với việc nhập xã, bộ máy hành chính và tổ chức Đảng của hai xã mới cũng thay đổi. Xã Điện Hòa do đồng chí Phạm Ngoạn làm Bí thư, Huỳnh Cân làm Chủ tịch. Xã Điện An do đồng chí Trần Lý làm Chủ tịch. Ủy ban Hành chính được đổi thành Ủy ban Hành chính Kháng chiến cho phù hợp với yêu cầu mới. Chi bộ Điện Hòa mang tên chi bộ Phan Xuân Mai do đồng chí Ngô Dinh ở Viêm Tây làm Bí thư. Chi bộ Điện An mang tên chi bộ Hồ Văn Hào do đồng chí Hà Sang, người Phong Lúc, làm Bí thư.

Lực lượng vũ trang cũng được cải tổ và xây dựng theo nguyên tắc mới. Dân quân xã được chia thành hai loại là du kích tập trung và du kích không tập trung. Du kích tập trung là lực lượng nòng cốt của xã. Mỗi xã có một trung đội du kích tập trung. Tại Điện An, trung đội du kích tập trung do đồng chí Nguyễn Thảo chỉ huy. Trung đội du kích tập trung xã Điện Hòa do đồng chí Nguyễn Văn Cứ, người Bồ Mưng, và đồng chí Nguyễn Đức Mẹo, người Viêm Tây, chỉ huy. Toàn bộ lực lượng vũ trang mỗi xã đặt dưới quyền chỉ huy của Ban Chỉ huy Xã đội. Xã đội trưởng bấy giờ là đồng chí Nguyễn Khắc Hủy. Chính trị viên Xã đội là đồng chí Nguyễn Văn Ngạnh.

Năm 1949, phong trào cách mạng xã Điện Thắng tiếp tục được củng cố. Tuy không mở những trận đánh lớn nhưng lực lượng ta cũng tiến hành nhiều trận đánh, trận phục kích lẻ tẻ, cướp súng, quấy rối, và nhất là tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Thời gian này, thực dân Pháp thường xuyên mở những trận càn lớn nhỏ với mục đich vơ vét thóc gạo, bắt trâu bò của dân, bắt thanh niên đi lính làm bia đỡ đạn cho chúng, hãm hiếp phụ nữ… Cuối năm 1949, lấy lý do khi bắn pháo vào các làng để “tiêu diệt cộng sản” khỏi sợ trúng đồng bào, chúng bắt mỗi thôn vài chục người tập trung xung quanh đồn Ngũ Giáp. Tuy nhiên, mục đích chúng là muốn mượn đồng bào làm lá chắn sống. Trước tình hình ấy, lực lượng du kích tích cực chống càn, gây cho chúng một số tổn thất. Đồng thời, anh em cũng thường xuyên tổ chức phục kích, uy hiếp địch trên đoạn đường từ đồn Ngũ Giáp lên Đông Quang. Bị uy hiếp, địch buộc phải bỏ đồn Đông Quang. Có thể nói, đây là thắng lợi rõ rệt của ta, sự sa sút về lực lượng của địch.

Trong thời gian này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào sản xuất lên mạnh. Bà con tận dụng đất thừa, đất thẻo trồng cây rau màu. Ở những đám ruộng gần đồn địch, bà con không sợ hiểm nguy, tích cực sản xuất. Đã có nhiều đồng bào bị địch bắn chết lúc làm ruộng như anh Kiếm, anh Thái ở thôn Viêm Tây. Mặc dù vậy, năm nào, bà con cũng cố ý kéo dài thời vụ, sắp xếp để lúc nào cũng thu hoạch lúa và rau màu. Đặc biệt, sau khi gặt hái xong, bà con nhanh chóng chôn cất lương thực nhằm che giấu địch, hạn chế sự cướp bóc của chúng để đóng góp cho kháng chiến. Trên mặt trận này, có nhiều đồng bào, đồng chí phải hy sinh. Điển hình như bà Năm Trúi ở Viêm Tây bị địch phát hiện có gạo chôn cất trong nhà. Cho rằng số gạo này, bà dùng để tiếp tế cho cách mạng nên chúng đốt nhà bà. Độc ác hơn, chúng quăng bà vào lửa. Cũng trong năm 1949, trong trận chiến đấu bảo vệ bà con đi gặt, các đồng chí Đỗ Hiến và Nguyễn Bá Cừ đã hy sinh.

Song song với công tác động viên nhân dân hăng hái sản xuất, phục vụ kháng chiến, tổ chức cơ sở Đảng ở Điện Thắng luôn tích cực hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện đúng đắn chính sách kinh tế của Đảng và chính phủ. Dưới hình thức tổ chức các quỹ đảm phụ, quỹ quốc phòng, quỹ nuôi quân, quỹ tổng động viên… nhân dân luôn thực hiện tốt, góp phần xứng đáng vào công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

III- RA SỨC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, GÓP PHẦN CÙNG QUÂN VÀ DÂN CẢ NƯỚC ĐÁNH THẮNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1950-1954):

Trong lúc này, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến ngày càng có lợi cho cách mạng Việt Nam. Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nối liền nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa. Bước sang năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta ngày càng phát triển và được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ. Ngay tại Pháp, hàng vạn nhân dân đã xuống đường biểu tình hưởng ứng ngày “Chống chiến tranh xâm lược Việt Nam”. Lợi dụng thực dân Pháp lâm vào tình trạng khó khănvề nhiều mặt, đế quốc Mỹ bắt đầu can thiệp vào Việt Nam. Được sự hà hơi, tiếp sức của Mỹ, Pháp tăng thêm quân số ở Đông Dương, từ 210.000 tên tháng 12 năm 1949 lên 239.500 tên vào tháng 9 năm 1950. Còn ở Việt Nam, sau những thất bại liên tiếp trên khắp các chiến trường, thực dân Pháp dần đần bị đẩy vào thế bị động, đối phó. Để xoay chuyển tình hình, chúng ráo riết tiến hành bắt lính, đẩy mạnh việc “chiêu an”, “dồn dân”, lập ra các đoàn quân thứ hành chính về tận các thôn, xóm dụ dỗ, mua chuộc nông dân. Đồng thời, chúng đẩy mạnh thực hiện kế hoạch Đờ Lát Đờ Tát-xi-nhi, bình định gấp rút, phản công quyết liệt.

Ở Điện Bàn, không thể đánh bại ta về mặt quân sự, thực dân Pháp giở trò triệt phá ta về mặt kinh tế, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, phá hoại mùa màng, giết chết trâu bò, tung gián điệp về vùng ta nắm tình hình hoạt động. Những âm mưu, thủ đoạn của chúng gây cho ta một số khó khăn. Trước bối cảnh tình hình, Huyện ủy Điện Bàn chủ trương tiếp tục phát triển thực lực về mọi mặt, đẩy mạnh du kích chiến tranh kết hợp với đấu tranh chính trị, kiên quyết đập tan âm mưu bình định, chiêu an của địch, củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích các xã, tăng cường xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo phong trào du kích chiến tranh ở cơ sở, xây dựng Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, củng cố khổi đoàn kết toàn dân nhằm đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi cuối cùng.

Về công tác Đảng, năm 1950, trong 21 chi bộ của xã Điện Hòa thì 4 thôn của Điện Thắng thành lập được 13 chi bộ1. Riêng tại Điện An, hai thôn của Điện Thắng là Phong Ngũ và Phong Lục thành lập được 4 chi bộ. Như vậy, số chi bộ của Điện Thắng tăng mạnh, lên đến 17 chi bộ với tổng số đảng viên hơn 300 đồng chí. Đây là thời kỳ công tác phát triển đảng viên được đẩy mạnh. Trên cơ sở đó, phong trào cách mạng ở Điện Thắng ngày càng phát triển, đạt một số kết quả đáng phấn khởi.

Trong thời kỳ này, nhân dân Điện Thắng luôn bảo vệ cán bộ, đảng viên. Họ không những đào hầm bí mật cho gia đình mình mà còn dành cho việc nuôi giấu cán bộ, bộ đội. Mỗi khi bị địch lùng sục, khủng bố, các đồng chí đều nhờ dân che chở, nuôi nấng. Tấm lòng của nhân dân đối với cách mạng được thể hiện rõ nét ở Hội Mẹ chiến sĩ, Hội Phụ lão. Khi bộ đội về chuẩn bị đánh địch, bị thương tích, Hội mẹ chiến sĩ, Hội phụ lão nhận giúp đỡ, chăm sóc vết thương, thật lòng thương yêu họ như con cháu trong gia đình mình.

Nhiều gia đình ở sát đồn địch như gia đình đồng chí Lê Tự Kỉnh, gia đình mẹ Hà Thị Kỳ… không ngần ngại đem bộ đội về nhà chăm sóc. Đã có hàng trăm gia đình ở Điện Thắng tự giác nhận chiến sĩ làm con nuôi. Mỗi khi bộ đội về làng, bà con tự giác đứng ra nhận lãnh, bảo đảm lúc ra đi người có thêm tấm áo, kẻ vài nắm cơm, người tặng ít chỉ khâu để may vá. Đó là những món quà nhỏ nhưng sâu nặng nghĩa tình, tăng thêm sức mạnh để bộ đội hăng hái đánh giặc, đưa cuộc kháng chiến ngày càng giành được nhiều thắng lợi.

Để tăng cường kìm kẹp, đàn áp nhân dân, thực dân Pháp đấy mạnh việc lập tề. Tuy nhiên, âm mưu của chúng bị thất bại nặng nề. Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chổng Pháp, bộ máy tề ngụy mà địch tốn nhiều công sức xây dựng đã bị ta vô hiệu hóa. Hơn thế nữa, đa số lý trưởng, hương kiểm, phó lý ở các làng đều làm việc cho ta, chịu sự chỉ đạo của ta. Có thể nói, trong công tác này, ta vận dụng rất linh hoạt. Có nơi, ta vận động lý trưởng, tề điệp về hàng như Hà Tào ở Phong Lục, Trương Công Hối ở Thanh Quýt, Huỳnh Tào ở An Thanh. Lại có nơi, người của ta được đưa ra làm tề ngụy cho địch như Hà Chương, Hà Xá ở Phong Ngũ, Nguyễn Hữu Tân, Nguyễn Bá Lượng ở Thanh Quýt.

Ở nhiều thôn như Thanh Tú, An Tự, Viêm Tây, tình hình diễn ra cũng tương tự. Ta cử người vào làm lý trưởng. Thế cho nên, mới có chuyện lý trưởng, phó lý… ban ngày ra vào đồn địch nhưng đêm đến lại là những người đứng ra thu thuế cho cách mạng. Ban đêm, nhiều nơi, ta gần như hoàn toàn làm chủ. Nhiều buổi sinh hoạt của các đoàn thể quần chúng thường được tổ chức vào ban đêm. Có những cuộc mit tinh, hội họp tập trung từ bảy đến 800 người như những cuộc mit tinh ủng hộ bộ đội, ăn mừng chiến thắng tiêu diệt đoàn xe địch đêm ngày 6 tháng 1 năm 1950.

Có thể nói, trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, phong trào tăng gia sản xuất, thi đua chăn nuôi heo gà, hũ gạo đồng tâm, hũ gạo kháng chiến ở Điện Thắng luôn được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ. Ngoài việc giải quyết nhu cầu đời sống hàng ngày, đồng bào còn quyên góp ủng hộ lực lượng du kích luyện tập, ủng hộ bộ đội tham gia các trận đánh… Như đã thành thói quen, khi xúc gạo nấu cơm, các mẹ, các chị lại bớt ra một ít bỏ vào hũ. Hàng tháng hoặc nửa tháng sẽ có các đội phụ trách công việc đén từng nhà thu.

Ngoài ra, Nông hội còn đứng ra tổ chức quyên góp hoặc cất giấu lương thực, kêu gọi sự hảo tâm của những gia đình giàu có ủng hộ kháng chiến. Đáp lời kêu gọi, ở Điện Thắng, đã có nhiều gia đình xung phong đóng hàng chục ang gạo cho cách mạng. Đặc biệt, bà con còn thực hiện “bữa ăn đồng tâm” nhưng không theo thời gian nhất định. Theo đó, khi đến “bữa ăn đồng tâm”, nhân dân tất cả các làng trong xã đồng loạt không nhóm lửa để dành số gạo đó nuôi quân. Bằng những hình thức, biện pháp ấy, hàng tháng, người dân Điện Thắng đã góp từ 30 đến 40 ang gạo phục vụ kháng chiến.

Cũng trong thời gian này, Điện Thắng bắt đầu thực hiện chính sách thuế do Nhà nước ban hành năm 1950. Càng về sau, công tác thuế càng đi dần vào nề nếp, được tiến hành khá đều đặn, mang lại hiệu quả rõ rệt. Đặc biệt, những gia đình neo đơn hoặc chồng con tham gia kháng chiến thì được miễn thuế. Tuy nhiên, nhiều gia đình vẫn tự nguyện đóng góp một ít thuế để ủng hộ kháng chiến. Theo chính sách thuế của Nhà nước, mức đóng thuế áp dụng cho những gia đình trung nông từ 25 đến 30% sản lượng. Trong lúc đó, phú nông và địa chủ từ 40 đến 50% sản lượng. Việc thu thuế được tiến hành vào ban đêm. Mỗi nhà đều dành phần lúa tốt cất giấu sẵn nơi quy định ở góc vườn. Anh em du kích phân công nhau đi từng nhà nhận lúa. Đáng chú ý, nhiều nhà còn để sắn một ít tiền trong đó để tặng anh em bộ đội.

Năm 1950, quân và dân Điện Thắng có nhiều thành tích đánh địch. Ngay từ đầu năm, du kích các xã đã phối hợp với lực lượng bộ đội chủ lực lập một chiến công vang dội. Bấy giờ, được tin có một đoàn xe địch chở đồ tiếp tế từ Đà Nẵng sẽ đi trên đường quốc lộ số 1 qua địa phận Điện Thắng. Nắm chắc lộ trình của đoàn xe, cấp trên cử một đại đội chủ lực do đồng chí Nguyễn Bá Phát chỉ huy, kết hợp với du kích địa phương đánh giao thông chiến từ trên quãng đường từ Viêm Tây đến Gò Phật. Đây là một trận đánh lớn, có quy mô nên công tác chuẩn bị được tiến hành chu đáo, tránh sai sót có thể xảy ra. Địa điểm diễn ra trận đánh lại nằm trong phạm vị khống chế của địch.

Nhằm bảo đảm thắng lợi, yếu tổ bí mật, bất ngờ được giữ đến phút cuối. Nhân dân Điện Thắng lại giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm yếu tố bí mật của trận đánh. Các cụ già, em nhỏ xung phong đứng gác hai đầu đường dưới dạng chăn trâu, cắt cỏ, làm ruộng để theo dõi sát nút tình hình địch. Nhiều gia đình nhận che giấu, nuôi anh em bộ đội một cách kín đáo. Lực lượng tự vệ và du kích, trừ một số trực tiếp tham gia chiến đấu cùng bộ đội còn phần lớn được bố trí chặn viện ở hai đầu đề phòng quân địch từ các đồn gần đó kéo ra chi viện. Ta sắp xếp lực lượng hai bên đường đào hố, ẩn mình trong lòng đất. Sau đó, đồng bào lấy rơm, cỏ phủ lên để ngụy trang. Tuy nhiên, lực lượng ta lên phương án, chuẩn bị đâu vào đấy đã ba ngày nhưng đoàn xe tiếp tế của địch vẫn chưa thấy xuất hiện trên lộ trình khiến mọi người sốt ruột.

Mãi đến ba giờ chiều ngày 6 tháng 1 năm 1950, bất ngờ, một đoàn xe địch gồm 13 chiếc bon bon trên đường quốc lộ 1, từ Đà Nẵng vào đến Viêm Tây. Khi chiếc cuối cùng vừa lọt vào trận địa, anh em bộ đội chủ lực giật mìn. Hai trái mìn đồng loạt nổ tung. Hai chiếc xe địch bốc cháy. Sự việc diễn ra trong chớp nhoáng khiến địch nhốn nháo, hốt hoảng. Trong khi chúng chưa kịp trở tây thì lực lượng ta xung phong, dùng lựu đạn, thủ pháo diệt nốt những chiếc ở giữa. Bọn lính nhiều tên chết tại trận, một số tên khác bỏ chạy tán loạn. Kết quả, trọng trận đánh này, lực lượng ta tiêu diệt được 8 chiếc xe, làm hư hại nặng 5 chiếc khác, diệt và bắt gần 100 tên Pháp. Trong đó, có tên quan tư Letouleque, chỉ huy hành quân. Ngoài ta, ta còn thu được rất nhiều tiền, lương thực, thực phẩm, vũ khí. Thắng lợi của trận đánh khiến nhân dân vô cùng phấn khởi, thêm tin tưởng vào cách mạng1. Đây là lần đầu tiên lực lượng bộ đội phối hợp với du kích đã tiến hành phục kích, diệt gọn địch một cách táo bạo, bất ngờ ngay giữa ban ngày.

Phát huy thắng lợi, lực lượng du kích các xã tiếp tục phối hợp với bộ đội huyện đánh đồn Ngũ Giáp. Có thể nói, đồn Ngũ Giáp có vị trí chiến thuật rất quan trọng đối với địch. Đó là điểm bảo vệ con đường giao thông huyết mạch qua cầu Thanh Quýt, bảo vệ hệ thống tề ngụy ở các vùng lân cận. Đồn Ngũ Giáp cũng là nơi đồn trú chủ yếu của các cấp chỉ huy Pháp khi đưa quân đến đây. Công sự đồn rất kiên cố. Ngoài những vọng gác bao chiếm một diện tích khoảng 1000m2 cùng lô cốt chìm xây tường dày 80cm. Trong đồn có những ô tác chiến ngầm trang bị hỏa lực mạnh. Quân số địch ở đây gồm 40 tên do một tên trung úy chỉ huy.

Đáng chú ý, trong trận đánh này, công tác binh vận được đưa lên hàng đầu. Ta tổ chức rải truyền đơn nhằm tuyên truyền địch vận trong lòng địch. Truyền đơn viết “Hỡi anh em thanh niên bị giặ Pháp bắt đi lính: bộ đội ta đã thắng những trận oanh liệt và còn thắng nhiều trận oanh liệt nữa, các anh sẽ phải làm bia đỡ đạn cho chúng, các anh nghĩ sao? Hãy mau mau quay súng trở về, chúng tôi chờ đón các anh. Nếu còn do dự, các anh sẽ hối không kịp”. Do tư tưởng hoang mang, dao động, lại được tuyên truyền, giác ngộ kịp thời nên tên đồn trưởng chấp nhận làm nội ứng cho ta đánh đồn. Đúng 5 giờ chiều ngày 15 tháng 1 năm 1950, theo kế hoạch, viên đồn trưởng kéo 28 tên lính ra ngoài đồng đá bóng. Bộ đội, du kích nằm trong một chiếc ghe, phủ rơm lên trên chèo tới. Chỉ trong vòng 5 phút tấn công đồn, lực lượng ta đã tiêu diệt 5 tên địch, bắt sống 4 tên khác và thu được 20 khẩu súng các loại. Quân ta rút lui an toàn, không bị tổn thất.

Trận đánh đồn Ngũ Giáp khiến kẻ thù càng thêm khiếp sợ. Chúng bắt buộc phải xây dựng lại, củng cố, đề phòng ta tấn công lần nữa. Thâm độc hơn, để trả thù cho những tổn thất liên tiếp, cùng trong thời gian này, thực dân Pháp quyết định tổ chức một trận càn vào ngày 28 tháng 1 âm lịch. Trong trận càn này, chúng thắng tay bắn giết điên khùng những người dân vô tội. Tiêu biểu như ông Nguyễn Hữu Huân, bà Lê Thị Kiềng, ông Nguyễn Hữu Hỷ và 3 người khác nữa bị chúng mổ bụng, chặt đầu đem cắm trên cầu Thanh Quýt và treo trên ngọn cây để khủng bố tinh thần của quần chúng. Tiếp đến, trong một trận càn khác, thực dân Pháp đã chặt đầu Hoàng Văn Chỉ, thiêu sống ông Nguyễn Hữu Siêu… Có thể nói, chúng đã gây nên những tội ác dã man, tàn bạo, mất hết tính người.

Tháng 4 năm 1950, tỉnh trưởng Quảng Nam Hồ Ngận đề ra kế hoạch “Chiêu an bình định” vùng Điện Bàn. Ủy ban chiêu an Phú Bông1 bấy giờ giao công việc cho bọn tề ngụy, chuyển qua hoạt động ở Thanh Quýt. Chúng tiến hành “chiêu an” các làng xung quanh. Phụ trách chiêu an của huyện Điện Bàn là tên Trịnh Quang Thường. Chúng quyết định thành lập khu chiêu an Thanh Quýt, đưa tên Nguyễn Hữu Tuân, chánh tổng, làm trưởng ban. Dưới quyền Nguyễn Hữu Tuân là những tên tay sai khét tiếng gian ác như Trương Công Sằng, Lê Tự Mân, Nguyễn Văn Mai. Lực lượng địch gồm một đại đội Nghĩa dũng. Trụ sở đặt tại nhà tên Trương Công Cửu. Lực lượng chiêu an phối hợp chặt chẽ với các đồn bót trên địa bàn để càn quét, cắt đứt liên lạc của ta giữa vùng tự do và vùng bị chiếm đóng. Thường thường, trong mỗi trận càn, quân ứng chiến của tiểu khu bao vây vòng ngoài, quân địa phương càn đi quét lại bên trong. Chúng sẵn sàng bắt bớ, bắn giết những gia đình chúng được mật báo là có người theo kháng chiến, lùng sục khắp nơi truy tìm hầm bí mật.

Cũng trong khoảng thời gian này, sau những trận càn quét lớn vào các xã Điện Phong, Điện Quang, Điện Hòa, Điện An và Điện Ngọc, địch để lại một số quân đóng thêm 6 chốt. Đó là chốt ở nhà ông Phó Quế tại Phong Ngũ, chốt ở Thanh Tú, chốt nhà ông Hề ở xóm trảng Thanh Quýt, chốt nhà ông Lịch ở Viêm Tây, chốt ở Gò Phật và chốt ở nhà ông Kích. Như vậy, cùng với Ngũ Giáp và Tứ Câu, số đòn bót, cứ điểm của địch ở Điện Thắng bấy giờ là 8 đồn bót, cứ điểm, đưa tổng số quân chiếm đóng lên đến 2 đại đội. Chúng hy vọng với hệ thống đồn bót, cứ điển dày đặc, chúng sẽ dễ dàng khống chế, tiêu diệt lực lượng cách mạng.

Tháng 5 năm 1950, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới. Trong thời gian ngắn, ta đã tiêu diệt hơn 8000 tên địch, giải phóng hơn 350.000 dân. Nhờ chiến dịch lịch sử này, cục diện chiến tranh đã xoay chuyển cơ bản. Ta bắt đầu giành quyền chủ động trên chiến trường. Địch ngày càng bị động đối phó. Tiếp đến, tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II đã được khai mạc. Sau khi phân tích tình hình quốc tế và trong nước, Đại hội đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là hoàn thành giải phóng dân tộc, khẳng định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ. Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam.

Tháng 2 năm 1951, dân quân du kích các xã ở Điện Thắng phối hợp với đại đội 8 của huyện tổ chức phục kích địch tại đường cái Bình Long. Do nắm được quy luật đi lại của chúng, anh em đào hố cá nhân mai phục trên đường. Khi địch đi đến nơi, anh em nhanh chóng nhảy lên dùng dao diệt được một trung đội địch. Trong trận đánh này, có nhiều đồng chí đã tham gia như các đồng chí Nguyễn Hữu Kích, Nguyễn Vĩnh Hội, Hà Thị Long, Trần Thị Đôn, Lê Tự Lệnvà một số đồng chí khác.

Tháng 5 năm 1951, ta tổ chức đánh lô cốt Thanh Tú. Đây là lô cốt được phòng ngự khá vững chắc. Tường phía ngoài được xây sát vào khu nhà dân. Do đó, ta không thể dùng hỏa lực mạnh để tấn công vì sẽ nguy hiểm tính mạng bà con. Xung quanh lô cốt, địch rào đến 5 lớp rào dày đặc, khiến lực lượng ta cũng không thể tấn công trực diện bằng phương pháp đột nhập nhanh. Bấy giờ, ta đưa được anh Lê Tất Long, người của ta, làm lý trưởng. Anh thường vào ăn cơm với binh lính địch trong lô cốt Thanh Tú. Nhờ vậy, anh dễ dàng vận động số binh lính ở đây. Hôm ấy, khoảng 5 giờ chiều, trung đội du kích xã được bố trí bám sát đồn địch. Chờ lúc chúng ăn cơm tối, anh Lê Tất Long ra mở cửa, ra hiệu cho anh em tấn công. Thế nhưng, khi anh nhảy ra ngoài, bọn địch phát hiện được, đuổi theo. Chúng nổ súng bắn cản lực lượng ta một cách quyết liệt. Anh em xông đến cửa rào thì đồng chí Trương Công Mận hy sinh. Do hỏa lực địch quá mạnh, lại mất yếu tố bất ngờ nên sau 30 phút chiến đấu, để bảo toàn lực lượng, ta phải rút lui.

Rút kinh nghiệm trận đánh ở lô cốt Thanh Tú, tháng 6 năm 1951, du kích xã phối hợp với bộ đội đánh diệt lô cốt nhà Hê ở Thanh Quýt. Trong trận đánh này, lực lượng ta không đông, chỉ có 2 tiểu đội. Tuy vậy, ta cũng tiêu diệt được lô cốt nhà Hề, khiến kẻ thù khiếp sợ. Tiếp đến, vào tháng 8 năm 1951, bộ đội chủ lực tỉnh đã tấn công đồng loạt vào 7 lô cốt còn lại của địch, phá sạch hoàn toàn 2 lô cốt, đánh thiệt hại nặng những lô cốt khác. Với hàng loạt trận đánh vào lô cốt đã làm cho địch hoảng sợ. Chúng bắt buộc phải củng cố hệ thống phòng ngự. Các lô cốt được xây dựng lại, dày 1,2mét. Địch hy vọng với những lô cốt mới này sẽ giúp chúng phòng ngự tốt hơn.

Tháng 2 năm 1952, thực dân Pháp huy động 1 đại đội Âu Phi¸ 3 đại đội nghị binh và nghĩa dũng tiếp tục càn quét với quy mô lớn vào Điện Bàn, chủ yếu các xã Điện Hòa, Điện An… Trong trận càn này, chúng tàn sát dã man, làm 100 người chết và bị thương, ruộng vườn, nhà cửa bị đốt phá. Do quân số ta quá ít nên anh em du kích phải tạm thời rút đi để bảo toàn lực lượng. Tuy nhiên, giữa lực lượng ta và địch cũng có những trận đụng độ quyết liệt. Hàng chục tên địch bị ta loại khỏi vòng chiến đấu. Trong những trận đánh này, các đồng chí Nguyễn Văn Hợi và Hà Châu đã anh dũng hy sinh. Sau khi càn đi quét lại nhiều lần, đại bộ phận địch rút lui. Chúng chỉ để lại 1 tiểu đội Pháp và 1 trung đội ngụy đóng ở Trảng Nhật. Như vậy, hệ thống đồn bót, lô cốt của địch dày đặc hơn. Chúng gây cho ta nhiều khó khăn trong quá trình đi lại, hoạt động. Nhưng về cơ bản, phong trào cách mạnh ở Điện Thắng vẫn phát triển mạnh.

Công tác tuyển quân cũng được chú ý đẩy mạnh. Tại Trảng Dầu1, ta đã thành lập trạn khám tuyển. Hình thức tuyển quân bầy giờ thường chọn những thanh niên có sức khỏe trong lực lượng du kích xã, du kích thôn để bổ sung cho bộ đội chủ lực. Đây là cách tuyển quân có nhiều ưu điểm. Khi gia nhập bộ đội chủ lực, chỉ cần khóa huấn luyện ngắn ngày, anh em có thể chiến đấu được ngay. Ở nhiều cuộc tuyển quân, anh em xung phong đi rất nhiều. Sau đó, lực lượng du kích xã, thôn phải tăng cường việc bổ sung quân số, bảo đảm theo yêu cầu kháng chiến tại địa phương.

Trong thời kỳ này, chấp hành chủ trương của Đảng và chính phủ, Điện Thắng thực hiện việc giảm tô. Theo đó, việc giảm tô chỉ tiến hành đối với số nông dân phải thuê ruộng đất của phú nông và địa chủ. Nếu trước đây, số tô phải nộp từ 30 đến 35% sản lượng thì bắt đầu từ năm 1952, tùy theo hoàn cảnh từng gia đình cũng như ruộng tốt hay xấu, số tô phải nộp chỉ còn từ 15 đến 25% sản lượng. Song song với công tác giảm tô, ủy ban hành chính kháng chiến các xã ở Điện Thắng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thành lập các tổ vần công, đổi công, tổ tương tế, nông đoàn sản xuất… để giúp nhau cuốc đất, gặt lúa nhanh gọn, không để địch cướp lúa, phá hoại mùa màng, ảnh hưởng đến đời sống mỗi gia đình. Nhiều người chưa phải đảng viên nhưng cũng rất tích cực, ngày đêm lặn lội từng nhà để tuyên truyền, vận động bà con.

Đặc biệt, trong sinh hoạt kinh tế, suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Điện Thắng vẫn tiêu tiền tín phiếu của chính phủ, không tiêu tiền địch. Tuy bị địch phá hoại, tung tiền giả để làm tiền tín phiếu mất giá nhưng bà con vẫn không vì thế mà bỏ tiền tín phiếu. Hơn thế nữa, mặc dù nằm trong vùng bị địch tạm chiếm nhưng Điện Thắng đã đảm nhiệm tốt vai trò hậu phương, đã đóng góp nhiều lương thực, tiền thuế, các quỹ nuôi quân… trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ. Chỉ tính riêng số lương thực, thực phẩm nuôi cán bộ, đảng viên hoạt động ngay tại địa phương bình quân hơn 50 đồng chí quả là con số không nhỏ. Nhân dân Điện Thắng còn có nhiều sáng kiến chôn giữ lúa gạo được lâu. Đó là cách ngiấu lúa vào các trạm ươm con thuốc. Trạm ươm này làm như bình thường. Trên cùng lá lớp đất rải hạt giống, dưới lớp đất này được lót lá chuối khô để đất khỏi rơi xuống. Dưới cùng là ngăn chắn chứa thóc dày khoảng 20cm. Mỗi ngăn chứa vài ang. Ngoài ra, bà con còn chứa thóc ở gian bàn thờ bằng cách xây tường hai lớp, khá an toàn, chống được chuột, mưa lũ.

Điện Thắng cũng là một trong những địa bàn có nhiều hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, đảng viên. Hầu như nhà nào cũng có hầm bí mật. Nhiều gia đình có vài hầm bí mật. Đặc biệt, có gia đình như gia đình ông Nguyễn Văn Để có đến 6 chiếc hầm. Trong đó, có 1 hầm lớn nhất có thể cho phép 2 tiểu đội ẩn nấp tạm để tập kích địch. Nhiều gia đình khác ở Điện Thắng cũng không sợ hiểm nguy, thường xuyên nuôi giấu cán bộ, bộ đội như gia đình bà Nguyễn Thị Điểm, Hà Thị Nỳ, Nguyễn Thị Phong, ông Nguyễn Bá Lượng, Nguyễn Vĩnh Thứ, Võ Tâm, Nguyễn Đức Thịnh… Họ chỉ là những người nông dân bình thường. Công việc hàng ngày của họ chỉ là đưa cơm, nước, đậy nắp hầm bí mật, canh gác đề phòng địch lùng sục, truy tìm. Nhưng, đó là công việc đầy hiểm nguy, có thể dẫn đến tù đày, hy sinh mất mát. Họ làm được vì họ có lòng tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.

Bước sang Đông Xuân 1952 – 1953, thực dân Pháp chuyển hướng phòng ngự theo chiều sâu. Chúng không mở rộng phạm vi chiếm đóng mà tăng cường phòng thủ mạnh, xây thêm hàng loạt lô cốt chìm bên cạnh các lô cốt cũ, bắt dân đan trịch dày, đổ đất vào giữa hai lớp1. Bên trong lô cốt xây chìm xuống đất 1,4m đến 1,7m. Mỗi lô cốt thường có 1 tiểu đội ngụy chốt giữ, canh gác ngày đêm. Sau khi xây dựng xong hệ thống lô cốt, địch còn mở rộng Trảng Nhật, tăng quân số ở đây lên đến 1 đại đội. Tuy địch tăng cường xây dựng lô cốt, đòng đồn bót dày đặc nhưng phạm vi khống chế của chúng vẫn bị thu hẹp. Ở một số đồn, khi đi lấy nước, địch phải bắt loa xin phép ta.

Để chống lại những âm mưu thủ đoạn của địch, lực lượng du kích ở Điện Thắng chuyển sang hoạt động theo kiếu bám đồn, quấy rối, bắn tỉa địch, không cho chúng tự do ra ngoài. Đồng thời, ta đẩy mạnh công tác binh địch vận, dùng loa tuyên truyền, vận động, nêu rõ chính nghĩa của cách mạng, kêu gọi binh lính địch nỏ súng về với nhân dân. Lúc này, phong trào toàn dân đánh giặc cũng phát triển mạnh với nhiều hình thức phong phú như vót chông, đào hầm chông, làm bẫy chông, đặt mìn trên các ngả đường, chặn đánh địch đi lẻ, canh gác bảo vệ làng xóm, hạn chế sự hoạt động của địch đến mức thấp nhất, khiến chúng hoang mang, lo sợ ta tấn công. Năm 1953 cũng là năm lực lượng du kích Điện Thắng nhiều lần phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tiến hành nhiều trận đánh lớn, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch. Trong đó, nổi bật nhất là trận đánh tiêu diệt đồn Lục Giáp vào tháng 8 năm 1953.

Cuối năm 1953, đầu năm 1954, tình hình trong nước có nhiều chuyển biến quan trọng. Được Mỹ tăng cường viện trợ, thực dân Pháp ráo riết thực hiện kế hoạch Na-va với tham vọng kết thúc chiến tranh Đông Dương trong vòng 18 tháng. Thế nhưng, do bị thất bại trên khắp các chiến trường, tinh thần chiến đấu của binh lính địch ngày càng sa sút. Trên chiến trường Quảng Nam và Đà Nẵng, địch ra sức bắt lính tăng quân. Lực lượng cơ động ứng chiến cùng với các đơn vị quân thứ lưu động hành chính, nghĩa dũng đoàn ngày càng được lệnh tăng cường càn quét nhằm từng bước giành thế chủ động. Về ta, tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết về việc mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc… Ở Liên Khu V, Bộ Chính trị quyết định tập trung lực lượng tấn công Tây nguyên, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tăng cường củng cố vùng tự do. Chấp hành chủ trương của trên, Tỉnh uỷ tập trung lực lượng mở cuộc đánh sâu vào hậu cứ địch, nhằm tiêu hao tiêu diệt sinh lực chúng, tạo điều kiện tăng cường củng cố, bồi dưỡng lực lượng ta, mở rộng vùng căn cứ du kích, đưa phong trào đấu tranh vùng bị tạm chiếm và thành phố lên một bước mới, phá thế tiến công vào vùng tự do Liên Khu V của địch.

Nhờ chủ trương đúng đắn nói trên, ở Quảng Nam – Đà Nẵng, ta liên tiếp thu được thắng lợi. Đêm ngày 4 tháng 1 năm 1954, cứ điểm Gò Đình nằm ở phía tây thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc bị ta tiêu diệt. Đêm ngày 7 tháng 1 năm 1954, ta diệt tiếp các đồn Châu Lâu thuộc huyện Điện Bàn, Non Trượt ở Duy Xuyên, đánh vào thị xã Hội An, làm chủ tình hình, diệt nhiều tên địch, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng. Ngày 8 tháng 1 năm 1954, lực lượng đánh vào Hội An rút về Điện Nam, cùng với lực lượng du kích các xã Điện Nam, Điện Dương, Điện Ngọc chặn đánh 2 tiểu đoàn ứng chiến của địch càn quét hòng diệt lực lượng cách mạng. Những thắng lợi liên tiếp đầu tháng 1 năm 1954 khiến thực dân Pháp không những không thực hiện được ý đồ của chúng mà còn bị tổn thất nặng nề, tinh thần binh lính địch càng sa sút.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, làm nức lòng nhân dân cả nước. Tại Liên khu V, kế hoạch Át-lăng với âm mưu đánh chiếm vùng tự do Liên Khu của địch cũng bị thất bại hoàn toàn. Tại Quảng Nam – Đà Nẵng, ta ra sức tiêu diệt địch. Nổi bật là trận đánh vào cứ điểm Bồ Bồ diễn ra vào đêm 19 rạng ngày 20 tháng 7 năm 1954. Trong trận đánh này, lực lượng du kích và nhân dân Điện Thắng được huy động phục vụ chiến trường. Nhân dân đóng góp nhiều ghe, thuyền, chặt tre đóng bè đưa bộ đội sang sông một cách an toàn, bí mật. Anh em du kích làm nhiệm vụ hỗ trợ, tải thương và đóng vai trò quân dự bị, bao vây vòng ngoài. Kết quả, ta đã đánh thiệt hại nặng 1 chiến đoàn cơ động tinh nhuệ của thực dân Pháp, tiêu diệt 150 tên, bắt sống 293 tên. Chiến thắng Bồ Bồ là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử, làm nức lòng nhân dân Điện Thắng nói riêng và nhân dân toàn tỉnh nói chung.

Cũng trong ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc. Có thể khẳng định, qua chín năm kháng chiến lâu dài, gian khổ nhưng vô cùng anh dũng, nhân dân Việt Nam đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký kết Hiệp đinh Giơ-ne-vơ. Theo tình thần Hiệp định, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng nhưng miền Nam vẫn nằm dưới ách xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Rõ ràng, cùng nhân dân cả nước, nhân dân Điện Thắng còn phải tiếp tục chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

CHƯƠNG BA:

ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN ĐIỆN THẮNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1954-1975)

I- ĐẤU TRANH ĐÒI THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ, CHỐNG TỐ CỘNG, DIỆT CỘNG CỦA ĐỊCH (1954-1959):

Sau Hiệp định Giơnevơ, nước ta tạm thời chia làm hai miền Nam Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Miền Nam tạm thời nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Pháp. Hiệp định Giơnevơ qui định ngày 20 tháng 7 năm 1956, nhân dân hai miền sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ nhằm hất cẳng Pháp, đưa tay sai Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền. Chúng có tình phá hoại Hiệp định, biến miền Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ, chia cắt lâu dài đất nước ta. Được đế quốc Mỹ hà hơi, tiếp sức, Ngô Đình Diệm ra sức củng cố quyền lực, tiến hành đàn áp những người tham gia kháng chiến, gây ra những tội ác đẫm máu với nhân dân miền Nam, nhất là với những người kháng chiến cũ.

Ngày 20 tháng 9 năm 1954, địch vào Điện Bàn. Chúng đưa hàng ngàn đồng bào di cư từ miền Bắc vào ở Viêm Tây, kích động một số giáo dân phá các biểu ngữ, khẩu hiệu của ta, khủng bố những người kháng chiến. Tiếp đến, chúng bắt đầu xây dựng bộ máy ngụy quân, ngụy quyền. Tại Điện Bàn, địch thành lập các khu hành chính như các khu hành chính Kỳ Lam, Phú Kỳ, Cẩm Phổ và Thanh Quýt để thay thế cấp tổng cũ. Riêng tại khu hành chính Thanh Quýt, chúng thu nạp những tên tay sai của thực dân Pháp như Trương Công Sằng, Nguyến Hữu Hoàng, Lê Tự Hùng, Nguyễn Miên nắm các vị trí chủ chốt nhằm nhanh chóng ổn định cơ cấu hành chính xã thôn. Địch cũng tăng cường về khu hành chính này 1 tiểu đội cảnh sát, xây dựng hệ thống điệp ngầm, tiến hành mua chuộc, dụ dỗ những phần tử thoái hóa, biến chất làm tay sai cho chúng.

Cùng với việc thành lập,củng cố bộ máy ngụy quyền từ khu xuống các xã, thôn, địch ra sức tuyên truyền, nói xấu những người kháng chiến cũ, nói xấu miền Bắc, dùng nhiều thủ đoạn để chia rẽ hàng ngũ cách mạng. Tháng 9 năm 1954, bọn cảnh sát khu Thanh Quýt bắn chết thầy giáo Nguyễn Thông, nguyễn chiến sĩ thi đua của ngành giáo dục Quảng Nam năm 1953 khi thầy đang dạy học tại trường tư thục An Tự, Điện Thắng nhằm khủng bố tinh thần nhân dân. Khi những người công giáo di cứ vào miền Nam, đến trú tại Viêm Tây, chúng rêu rao “Cộng sản thù ghét những người theo đạo Thiên chúa”. Đồng thời, chúng tổ chức cho những phần tử cực hữu trong thành phần này đánh đập, tra khảo những người thuộc diện “tình nghi”. Đó là nguyên nhân khiến ở Viêm Tây đã xảy ra vụ xô xát diễn ra vào tháng 10 năm 1954 làm cho 16 đến 18 người bị thiệt mạng, hàng chục người khác bị thương.

Từ cuối năm 1954, dưới quyền chỉ huy của tên quận trưởng Huỳnh Nhung, về cơ bản, địch đã ổn định xong bộ máy hành chính, quân sự. Ở các xã, chúng cử ra các đại diện và phó đại diện của cái gọi là “Hội đồng hương chính”, thành lập 1 trung đội trật tự. Ở khu và quận có tổ chức dân vệ. Đồng thời, chúng lập nên hàng loạt tổ chức phản động như Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ liên đới, Phong trào cách mạng quốc gia… nhằm lôi kéo, lừa phỉnh thanh niên và các tầng lớp nhân dân khác gia nhập tổ chức, làm tay sai cho chúng. Đáng chú ý, từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 2 năm 1955, địch ráo riết tổ chức mạng lưới gián điệp, mật vụ trong các thôn như các tên Phan Tá, Phan Tùng, Nguyễn Hữu Tráng… Chúng dùng bọn này do thám, tìm hiểu lực lượng ta, phân loại “đối tượng tình nghi” để chuẩn bị khủng bố trắng. Sau khi ổn định bộ máy, chúng mới đánh thẳng vào tổ chức cơ sở Đảng của ta, bắt bớ, khủng bố những cán bộ cốt cán, nhất là những đồng chí có uy tín trong nhân dân.

Tại Điện Thắng, chúng giải tán các thôn, xã cũ, thành lập xã mới vào tháng 5 năm 1955. Theo đó, các làng An Thanh, Phong Ngũ, Phong Lục, Thanh Quýt, Bồ Mừng, Viêm Tây hợp nhất lại thành xã mới, lấy tên là xã Thanh Trường. Bấy giờ, Thanh Trường là 1 trong 30 xã của quận Điện Bàn, trực thuộc chi khu I. Sau khi lập bộ máy hành chính tạm thời ở các xã, đầu năm 1955, tên Trần Quang, trưởng khu hành chính Thanh Quýt, đã tập trung 2000 dân ở các thôn trong khu đến đình làng Thanh Quýt làm lễ “xé cờ”. Trong buổi lễ ô nhục, một số phần tử lý khai Đảng đã xé cờ Đảng, gây uất ức, phẫn nộ trong quần chúng nhân dân. Cũng trong khoảng thời gian này, địch khôi phục lại quyền lợi chính trị, kinh tế của bọn Việt gian phản động, bọn cường hào, địa chủ trước đây đã bị cách mạng phê phán gay gắt.

Tiếp đến, địch bắt đầu tiến hành đánh phá phong trào cách mạng một cách dữ dội, điên cuồng. Đặc biệt, khi “Tố cộng, diệt cộng” trở thành quốc sách. Theo đó, đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm thành lập “Ban Chỉ đạo tố cộng Trung ương” với khẩu hiệu sặc mùi phát xít “Thà giết lầm còn hơn bỏ sót”. Trong đó, Quảng Nam là địa phương được Mỹ Diệm chọn làm nơi thí điểm của chiến lược “Tố cộng, diệt cộng”. Chúng dùng những biện pháp hết sức dã man, gây ra nhiều vụ thảm sát như vụ thảm sát ở Chợ Được huyện Thăng Bình, vụ thảm sát ở đập Vĩnh Trinh huyện Duy Xuyên, vụ thảm sát ở các xã Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà của huyện Tiên Phước… Hàng trăm đồng bào vô tội bị chúng giết hại.

Trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, ngay đầu tháng 8 năm 1954, Tỉnh ủy Quảng Nam triệu tập cán bộ lãnh đạo các huyện về cơ quan Tỉnh ủy tại Tam An, Tam Kỳ, để quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng, chuyển hướng tổ chức và đấu tranh trong tình hình mới, củng cố rút gọn cấp ủy Đảng, chọn một số cán bộ có năng lực ở lại hoạt động bí mật còn đại đa số hoạt động hợp pháp trong các tổ chức quần chúng, lãnh đạo đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, chống khủng bố, bảo vệ quyền dân sinh dân chủ… Tổ chức cất giấu hoặc tiêu huỷ tài liệu, khẩn trương phân phát lương thực dự trữ trong các kho cho dân sử dụng. Mở đợt tuyên truyền sâu rộng, chuyển hướng tư tưởng về đường lối, phương châm đấu tranh trong giai đoạn mới cho đảng viên, cán bộ và nhân dân.

Tiếp đến, vào tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp và ra Nghị quyết quan trọng về tình hình và nhiệm vụ của cách mạng cả nước. Nghị quyết chỉ rõ rằng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải thấu suốt tính chất lâu dài, gian khổ và phức tạp của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, phải nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiến quyết khắc phục tư tưởng hòa bình, an nhàn hưởng lạc, ra sức đấu tranh chống những hành động trả thù, bắt bớ những người tham gia kháng chiến cũ, chống khủng bố, bảo vệ những quyền lợi nhân dân đã giành được trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Nghị quyết Bộ Chính trị nhanh chóng được kịp thời phổ biến. Tuy nhiên, những khó khăn trong phong trào cách mạng miền Nam khiến một số cán bộ, đảng viên dao động. Nhưng, phần lớn đảng viên và bà con vẫn tin tưởng vào Đảng. Thế cho nên, phong trào đấu tranh của nhân dân Điện Thắng vẫn được duy trì với nhiều hình thức phản kháng khác nhau.

Ngày 23 tháng 10 năm 1955, nhằm chính thức phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, địch tổ chức cuộc “Trưng cầu dân ý” giả hiệu. Chúng bắt nhân dân hội họp, mit tinh… đề cao vai trò của Ngô Đình Diệm với khẩu hiệu rằng Ngô Đình Diệm là nhà “Chí sĩ cách mạng quốc gia”. Trong cuộc “Trưng cầu dân ý” lừa bịp này, Mỹ – Diệm in hình Bảo Đại màu xanh, Ngô Đình Diệm màu đỏ và ra lệnh “Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ thùng”. Ta chủ trương vận động nhân dân đấu tranh chống lại. Hồ sơ lữu trữ của địch cho biết, lúc kiểm tra thùng phiếu ở Thanh Quýt, có rất nhiều phiếu ghi hàng chữ “Phản đối quốc gia giả hiệu”, hay “Tôi đòi phải có hiệp thương”, “Chờ tháng 7 năm 1956 bầu luôn”… Lại có người gạch chéo tên, cố tình nhầm lẫn để biểu lộ thái độ phản kháng của mình.

Năm 1956, nhân kỷ niệm hai năm ngày ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, Ngô Đình Diệm tung ra chiêu bài mới nhằm mua chuộc, dụ dỗ nông dân. Đó là việc ra ra dụ số 57 về cái gọi là “Cải cách điền địa” với mục đích đổi trắng thay đen, cướp đất của những gia đình kháng chiến cũ, khôi phục lại địa vị kinh tế, chính trị của tầng lớp địa chủ, phú nông. Với chính sách này, chúng hy vọng tầng lớp nông dân lớp trên đi theo chúng. Có thể nói, đây là âm mưu vô cùng thâm độc, nham hiểm của kẻ thù.

Cũng trong năm 1956, phối hợp với nhân dân toàn miền Nam, nhân dân Điện Thắng nổi lên đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Mặc dù bị địch hăm dọa, khủng bố nhưng bà con vẫn làm đơn kiến nghị, lấy chữ ký để gửi ra Đà Nẵng. Phong trào lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân. Kết quả, đã có 70% số dân ký vào bản kiến nghị. Có thể nói, điều đó nói lên sự kiên cường, bất khuất của nhân dân Điện Thắng. Đồng thời, cũng chứng tỏ nguyện vọng thiết tha của bà con là hiệp thương, thống nhất đất nước.

Những cuộc đấu tranh dưới hình thức phản kháng liên tiếp khiến địch vô cùng tức tối. Chúng điên cuồng khủng bố, đàn áp ngày càng mạnh tay. Chúng mở các lớp học “Tố cộng”, bắt tất cả những người tình nghi phải mang theo cơm nước, ăn ở tập trung ở đình Viêm Tấy, nhà thờ tộc Đoàn ở An Thanh… để nghe chúng lên lớp, nói xấu kháng chiến, bôi nhọ cách mạng. Trong suốt thời gian học tập, chúng áp dụng hình thức tư tưởng, bắt cán bộ, đảng viên phải “sám hối”, “ly khai” xé cờ Đảng. Thời gian học của mỗi lớp từ 2 tuần đến 1 tháng, học làm nhiều lần. Đồng thời, chúng nghiêm cấm nhân dân không được tiếp xúc với những gia đình cách mạng, gia đình kháng chiến.

Đây là lúc địch đề ra quy định toàn dân phải tham gia canh gác ban đêm. Mỗi gia đình phải sắm đủ 7 thứ là 1 cái mõ, 1 cuộn dây thừng, 1 cây gậy, 1 đèn gió, bình đựng dầu, túi gạo rang và 1 bị đá. Khi có lệnh của chúng, ai cũng phải đốt đèn, nổi mõ đi lùng bắt cán bộ. Với cách thức trang bị như vậy, không một ai lấy lý do chưa ăn cơm, đèn bị hết dầu đẻ trốn tránh việc canh gác. Thông qua những lớp học “Tố cộng”, địch cũng mua chuộc được một số đảng viên sa ngã, thoái hóa cam tâm làm tay sai cho kẻ thù như Lê Tự Lâm, Nguyễn Hữu Dư, Nguyễn Hữu Hoàng… Chúng quay ra vu cáo Đảng một cách trắng trợn, bỉ ổi, tố giác những người yêu nước. Nguy hiểm nhất là địch thường bắt tập trung học “Tố cộng” ngay trong vụ mùa, vụ làm thuốc lá bận rộn,làm cho mọi người vì quá lo công việc, phải khai báo cho xong chuyện.

Đặc biệt, sau những buổi học “Tố cộng”, chúng giở trò tra tấn, đánh đập tàn nhẫn những đảng viên trung kiên, những quần chúng tốt, một lòng kiên trung với cách mạng. Chúng dùng cả những cực hình có từ thời trung cổ để khủng bố tinh thần, ý chí của những người cộng sản. Tại Điện Thắng, có người bị chúng lấy thuốc đạn đặt lên rốn rồi lấy lửa châm đốt cháy hết cả vùng bụng. Chị Hạnh làm liên lạc ở thôn Viêm Tây bị chúng tra tấn nhưng chị nghiến răng chịu đau chứ không hề hé môi khai báo. Cuối cùng, chúng bắt nhốt chị chung với ông Rân, một cơ sở cách mạng ta ở Phong Ngũ. Mấy tên ác ôn đã lột quần áo cả hai người, bắt hai người nếu muốn tha bổng thì phải ăn nằm cho chúng xem.

Nhưng cả hai vẫn kiên quyết không làm điều ô nhục đó. Tên Sằng bèn lấy dây thắt lưng do to bản đánh tới tấp. Mỗi khi chiếc roi vung xuống, da thịt cả hai người tóe máu. Cứ như vậy hắn đánh đến lúc mỏi tay mới thôi. Trận đòn thù dã man, mất hết nhân tính ấy đã khiến một trong hai nạn nhân chết. Không chỉ tra tấn, giở những thủ đọa bỉ ổi đối với chị Hạnh, ông Rân, địch còn tra tấn dã man đối với nhiều cán bộ, đảng viên khác như đồng chí Nguyễn Hữu Lại, Lê Tự Phận bị tra tấn đến mức phải tàn phế. Riêng các đồng chí Ngô Cẩn, Nguyễn Phiến, Nguyễn Văn Phòng bị địch đem đi thủ tiêu. Có thể nói, từ năm 1956 trở đi, trong thời gian dài, không tuần nào không có xác người bị thả trôi qua cầu Thanh Quýt.

Đây là thời kỳ địch khủng bố dã man và tàn bạo nhất. Phong trào cách mạng ở Điện Thắng nói riêng và Điện Bàn nói chung bị dìm trong biển máu. Cán bộ, đảng biên bị bắt, bị tra tấn, bị giết hại không kể xiết. Tháng 3 năm 1957, sau quá trình “Tố cộng, diệt cộng” quy mô lớn, địch lập danh sách và tập trung 11.000 “can cứu”1 về Điện An để mở cuộc mít tinh nhằm tuyên truyền thắng lợi của chính sách “Tố cộng, diệt cộng” của địch. Tại cuộc mít tinh này, tên Trần Quốc Thái, quận trưởng Điện Bàn tuyên bố đã diệt 27 cán bộ quan trọng của huyện và đã “làm sạch cỏ cú Điện Bàn”. Chúng còn đưa người lên xé cờ Đảng. Trước tình hình ấy, chị em bàn nhau tổ chức phá cuộc mít tinh bằng cách giả vờ ngất xỉu, kêu la, đòi phải đi cấp cứu. Cùng nhân cơ hội này, chị em tố cáo tội ác dã man của địch trong các lớp “Tố cộng”. Bị bất ngờ, địch bối rối, đành phải giải tán cuộc mít tinh.

Trước sự khủng bố, kìm kẹp của kẻ thù, các cơ sở Đảng ở Điện Bàn bị thiệt hại nặng. Tính đến tháng 3 năm 1957, Đảng bộ huyện chỉ còn 3 chi bộ, 9 đảng viên. Trong đó, ở Điện Thắng còn 1 chi bộ. Đó là chi bộ Viêm Tây do đồng chí Lê Thị Trung làm Bí thư. Ở một số thôn khác vẫn còn đảng viên nhưng chưa bắt liên lạc được như các đồng chí Trần Huân2, Trương Công Mậu, Nguyễn Đồng… Những đồng chí này cùng với nhiều đồng chí khác như các đồng chí Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Hữu Kiếm, Nguyễn Hữu Bì… thường xuyên ẩn nấp trong nhà các gia đình cơ sở. Cũng lắm lúc phải ngủ bờ, ngủ bụi. Đêm đến, các đồng chí len lỏi từng nhà người quen, móc nối, vận động bà con vững tin vào cách mạng.

Cũng trong thời gian này, địch lại giở một thủ đoạn thâm hiểm nhằm triệt phá phong trào cách mạng. Chúng vừa tổ chức “Tố cộng” vừa tiến hành lập các xóm gọi là “xóm kiến thiết”, bắt mọi người phải “diệt cán, trừ cộng”. Xóm kiến thiết thực chất là khu trù mật trá hình. Để xây dựng xóm kiến thiết, địch bắt dân làm nhà liền nhau theo dãy. Mặt tiền nhà quay ra mặt đường, cửa trước và cửa sau phải nằm trên một đường thẳng để khi đi tuần tra chúng có thể nhìn vào nhà một cách dễ dàng, không bị che khuất. Với mục đích “Tách cá khỏi nước”, chúng bắt mọi người đêm đến phải đổi nhà cho nhau. Thế cho nên, nhiều khi cán bộ, đảng viên ban đêm lẻn về bắt liên lạc gặp phải người lạ trong gia đình cơ sở, gây nhiều khó khăn cho ta.

Tại Phong Lục, địch mua chuộc một số đồng bào theo đạo Thiên Chúa bằng cách xây thêm nhà thờ, biến nhà thờ thành trung tâm phản động và là nơi trúi chân thường xuyên của những tên ác ôn khét tiếng như Phan Tá, Phan Tùng. Còn tại Thanh Quýt, chúng nâng đỡ đạo Tin Lành, tìm mọi cách chia rẽ lương giáo, gây ra sự nghi ngờ, không tin tưởng lẫn nhau. Bên cạnh đó, về tổ chức hành chính, chúng thành lập các tổ liên gia. Cứ 3 hoặc 5 gia đình là một liên gia. Cả Điện Thắng bấy giờ có khoảng 6000 dân, địch chia thành 140 liên gia. Chúng hy vọng rằng với sự ra đời của tổ chức liên gia, chúng sẽ dễ dàng kiểm soát, kìm kẹp người dân, không cho nhân dân tiếp xúc với những người cộng sản.

Mặc dù bị địch dùng mọi thủ đoạn đàn áp, khủng bố nhưng nhân dân Điện Thắng vẫn một lòng kiên trung với cách mạng. Họ ngày đêm che chở, đùm bọc cán bộ, đảng viên ngay trong thời kỳ khó khăn, khi địch tiến hành khủng bố trắng. Ông Lê Công Lời, người làng Thanh Quýt, đã dùng phên đôi trên gác thờ nuôi giấu, che chở cho các đồng chí Huyện ủy về địa phương hoạt động. Bác Đặng Đinh suốt 3 năm liền, từ năm 1955 đến 1958 chèo đò qua sông đưa đón cán bộ qua lại. Đặc biệt, dù không qua lớp đào tạo nào nhưng bác biết cách bố trí các loại tín hiệu, ám hiệu rất thành thạo, không lần nào bị lộ. Nhờ nhân dân che chở, đùm bọc, phong trào cách mạng ở Điện Thắng không bị mất trắng như một số địa phương khác. Nhiều cán bộ cơ sở, cán bộ huyện thường xuyên với phong trào, bám dân suốt mấy năm trời. Tấm gương của các đồng chí Lê Láo, Thân Kiểng, Đặng Nhân… luôn in đậm trong lòng quần chúng nhân dân.

II- THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 15 CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG, TÍCH CỰC CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG, TIẾN LÊN GIẢI PHÓNG XÃ NHÀ (1959-1965):

Tháng 1 năm 1959, trong không khí sục sôi căm thù, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II đã họp Hội nghị lần thứ 15 tại thủ đô Hà Nội. Nghị quyết Hội nghị khẳng định con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng quần chúng là chủ yếu, kết hợp lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến dựng lên chính quyền của nhân dân. Hội nghị cũng nhấn mạnh nhiệm vụ trước mắt của nhân dân miền Nam là đoàn kết toàn dân, kiên quyết chống đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ; thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam.

Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra đời đã đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng bức thiết của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo điều kiện cho sự phát triển nhảy vọt về chất của phong trào cách mạng miền Nam. Trên cơ sở Nghị quyết 15, tháng 6 năm 1959, Tỉnh uỷ Quảng Nam – Đà Nẵng đã triệu tập Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng tại thôn Bà Ghì1 để truyền đạt Nghị quyết. Có thể nói, những chủ trương của Hội nghị đã đáp ứng yêu cầu cấp bách của cách mạng, đánh dấu một bước chuyển biến mới trong tư tưởng và hành động của cán bộ, nhân dân, mở ra hướng mới cho phong trào cách mạng ở miền Nam nói chung và Điện Thắng nói riêng.

Trong lúc đó, tình hình ngày càng có lợi cho ta. Đêm 17 tháng 1 năm 1960, nhân dân Bến Tre mở đầu cao trào bằng cuộc “Đồng khởi” lịch sử. Hòa nhập với Bến Tre là các tỉnh Mỹ Tho, Bạc Liêu, Châu Đốc… Chỉ thời gian ngắn sau, phong trào “Đồng khởi” lan khắp các tỉnh Nam bộ. Nhiều vùng ở Tây nguyên và một số vùng ở miền núi Trung bộ cũng hưởng ứng phong trào. Từ thắng lợi của phong trào “Đồng khởi”, ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, giương cao ngọn cờ tập hợp nhân dân đấu tranh, tiến tời lật đổ sự thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm. Có thể nói lúc bấy giờ, trên toàn miền Nam, kẻ thù ngày càng đi dần vào thế phòng ngự. Chúng bắt buộc phải tăng cường đánh phá, trả thù, đề phòng quần chúng nổi dậy.

Tại Điện Bàn, đầu năm 1960, Huyện ủy được thành lập với bí danh cơ quan 40 do đồng chí Nguyễn Văn Sinh làm Bí thư. Đội công tác vũ trang tuyên truyền của huyện do các đồng chí Nguyễn Khôi, Năm Dừa, Hồng Thắng… chỉ huy. Tuy phong trào “Đồng khởi” nổ ra ở nhiều tỉnh miền Nam, một số nơi ở Tây nguyên, vùng núi miền Trung nhưng ở Điện Bàn, do nhiều năm liền, địch khủng bố trắng, phá hoại gần hết các cơ sở cách mạng, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt, bị giết hại, bị cầm tù nên phong trào chưa hội đủ điều kiện để “Đồng khởi”. Nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên Điện Bàn bấy giờ là ra sức khôi phục, củng cố và phát triển các cơ sở cách mạng trong phạm vi toàn huyện.

Tháng 2 năm 1960, các đồng chí Vân, Hồng Thắng, Lý Trân, Lê Láo1, Nguyễn Khôi lần lượt về bắt liên lạc ở Điện Thắng. Trên cơ sở đó, các đồng chí đã tiếp xúc với những đảng viên còn bám trụ ở địa phương như các đồng chí Trần Hân, Nguyễn Hữu Bì, Phan Thị Tảo… Đây là những đồng chí được đồng bào che chở, nuôi giấu trong suốt những năm cách mạng gặp khó khăn, tổn thất khi địch tiến hành khủng bố trắng, đàn áp dã man. Gia đình các bà Huỳnh Thị Mười, Nguyễn Thị Bông, Hà Thị Nỳ, Nguyễn Thị Ngân… là những gia đình cơ sở kiên trung, bất chấp hiểm nguy, sẵn sàng đón cán bộ, đảng viên về nhà mình.

Chính nhờ sự che chở, giúp đỡ các mặt của đồng bào cũng như những hoạt động tích cực, không quản hy sinh, gian khổ của các đồng chí cán bộ, đảng viên, đường dây liên lạc từ Điện Thắng lên vùng căn cứ, từ Điện Thắng ra Đà Nẵng được khai thông, góp phần đưa phong trào cách mạng Điện Thắng từng bước phục hồi và phát triển. Để chỉ đạo phong trào, cán bộ Huyện ủy Điện Bàn, đội công tác vũ trang tuyên truyền tỉnh thường xuyên về Điện Thắng bám sát cơ sở tuyên truyền, vận động quần chúng. Thông thường, ở căn cứ, các đồng chí về Điện Thắng theo đường giao liên. Riêng từ Điện Thắng ra Đà Nẵng do cơ sở ở địa phương đảm nhiệm.

Giữa lúc ấy, tình hình có nhiều thay đổi. Phong trào Đồng khởi năm 1960 của nhân dân miền Nam khiến chiến lược “Chiến tranh một phía” của đế quốc Mỹ bị phá sản. Chúng buộc phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Với chiến lược này, chúng hy vọng sẽ “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng. Theo đó, Mỹ ồ ạt đưa cố vấn cũng như các loại phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam, thành lập Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ, đẩy mạnh viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm, ra sức bắt lính đôn quân, ra sức càn quét, đánh phá quyết liệt phong trào cách mạng. Đồng thời, chúng thành lập hệ thống các “ấp chiến lược” nhằm “tát nước bắt cá”, tiêu diệt tận gốc cơ sở cách mạng.

Tháng 4 năm 1961, chúng phân chia lại chiến trường, bỏ các quân khu, thành lập ở miền Nam các vùng chiến thuật, một biệt khu. Quảng Nam và Đà Nẵng thuộc vùng I chiến thuật. Trong đó, Điện Thắng thuộc khu chiến thuật 12 đóng ở Hòa Cầm, cách Điện Thắng 7km về phía Bắc. Về ấp chiến lược, ở Điện Bàn, địch dự định thành lập 142 ấp chiến lược trên tổng số 30 xã. Tại Quảng Nam, chúng dự định sẽ hoàn thành các ấp chiến lược từ tháng 10 năm 1961 đến tháng 7 năm 1962. Có thể nói, ấp chiến lược đã gây khó khăn nhiều mặt cho phong trào cách mạng miền Nam, làm đảo lộn mọi sinh hoạt của đồng bào. Nó thực chất là những trại tập trung trá hình nên bị nhân dân chống phá bằng nhiều bình thức khác nhau.

Để đối phó với những âm mưu, thủ đoạn của Mỹ Diệm, ngày 24 tháng 1 năm 1961, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp, phân tích tình hình và quyết định “đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị”1. Chấp hành chỉ thị của Đảng, Liên Khu ủy V2 đề ra chủ trương ở miền núi đấu tranh vũ trang là chủ yếu, ở vùng đồng bằng đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, vùng đô thị đấu tranh chính trị là chủ yếu. Những chủ trương của Trung ương Đảng, của Liên Khu ủy V trở thành kim chỉ nam trong phong trào hành động cách mạng của nhân dân Điện Bàn và nhân dân Điện Thắng trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng này.

Cũng bắt đầu từ năm 1961, phong trào cách mạng Điện Thắng hồi phục dần. Ở các thôn, tổ chức Đảng từng bước được củng cố, tạo điều kiện để hợp nhất tổ chức Đảng ở địa phương. Trên cơ sở đó, được sự chấp thuận của Huyện ủy, cuối tháng 7 năm 1961, đồng chí Trần Hân3 thay mặt Huyện ủy triệu tập đảng viên ở các tổ Đảng, các chi bộ cũ họp tại Thanh Tú để thành lập chi bộ mới. Trong cuộc họp này, đồng chí Trần Hân đã được bầu làm Bí thư chi bộ. Đồng chí Nguyễn Đồng được bầu làm Phó Bí thư. Đáng chú ý, theo chủ trương của cấp trên, cuộc họp tiến hành lập Đội an ninh vũ trang xã do các đồng chí Trần Hân và Nguyễn Đồng kiêm trưởng và phó ban.

Việc tái lập chi bộ Đảng ở Điện Thắng đánh dấu bước ngoặc, bước phát triển mới của phong trào cách mạng ở xã nhà. Lúc này, nhiệm vụ chủ yếu của chi bộ là lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống âm mưu lập “ấp chiến lược” của địch. Đây thực sự là thử thách không nhỏ. Nhưng, muốn tuyên truyền, vận động quần chúng, làm cho quần chúng thấy Đảng vẫn còn, cách mạng vẫn còn thì phải có hành động thiết thực. Do đó, chi bộ và Đội an ninh vũ trang quyết định tổ chức một trận diệt ác phá kèm để trừng trị bọn phản động làm tay sai cho Mỹ Diệm. Qua đó, khích lệ tinh thần của quần chúng.

Công tác chuẩn bị diệt ác phá kèm được chi bộ và anh em trong Đội an ninh vũ trang tiến hành cẩn thận. Sau khi phương án được cân nhắc và thông qua, ngày 21 tháng 8 năm 1961, khi bọn tề ngụy xã Thanh Trường1 triệu tập hơn 140 liên gia trưởng về trụ sở Hội đồng xã. Mục đích của chúng là họp bàn biện pháp, cách thức triển khai việc rào ấp chiến lược, chống phá phong trào cách mạng của nhân dân ta. Đúng theo kế hoạch, Đội an ninh vũ trang đột nhập và trấn áp, giáo dục chúng. Hầu hết những tên có mặt đều hoảng sợ cực độ. Chúng không thể tin rằng lực lượng cách mạng lại mạnh như vậy. Cũng ngay trong đêm hôm ấy, tổ công tác an ninh xã do đồng chí Trần Khôi làm tổ trưởng đã đột nhập vào nhà tên Nguyễn Cang, ấp trưởng Bồ Mưng, một tên khét tiếng gian ác, trừng trị hắn, dán bảng tuyên án lên ngực và rút lui an toàn. Thắng lợi ngay trong đợt ra quân đầu tiên của lực lượng anh ninh vũ trang xã đã gây tiếng vang trong quần chúng. Nhân dân vô cùng phấn khởi. Kẻ địch hoang mang, không còn dám hung hăng như trước.

Tuy nhiên, thời gian này, địch vẫn ráo riết tiến hành gom dân lập “ấp chiến lược”. Thanh Trường được chọn là địa phương “ưu tiên” trong đợt 1 bởi vị trí quan trọng do nằm trên đường quốc lộ số 1. Hơn thế nữa, chúng còn cho đây là vùng an ninh và an toàn, được chúng kiểm soát chặt chẽ. Trên toàn xã, chúng thành lập 3 ấp chiến lược. Các thôn Bồ Mưng, Viêm Tây và một phần Thanh Quýt rào liên hoàn thành 1 ấp. Riêng An Thanh thành 1 ấp. Còn Phong Lục, Phong Ngũ và một phần Thanh Quýt thành 1 ấp. Địch bắt dân góp tre, vót chông để làm cạm bẫy để chống cán bộ, đảng viên lẻn vào làng tuyên truyền, vận động quần chúng. Địch cũng bắt bà con phải đi đào mương, rào làng không công cho chúng. Ở mỗi ấp, chúng mở 2 cổng ra vào. Ngoài các bót canh ở cổng còn có 4 bót canh ở 4 góc. Phía ngoài hàng rào tre là những đường hào sâu, cắm chông thò dày đặc.

Địch còn bắt nhân dân chất củi thành nhiều đống lớn nhỏ xung quanh hàng rào. Lúc phát hiện có động tĩnh, chúng sẽ nổi lửa đốt nhằm dễ truy tìm “cán bộ Việt cộng” đột nhập vào làng. Với cách bố trí trên, địch hy vọng và tin tưởng ngay cả “chuột đồng cũng không lọt qua nổi”. Để thực thi cái gọi là nền “dân chủ pháp trị”, địch thành lập mỗi ấp 2 liên toán thanh niên chiến đấu, mỗi liên toán chừng 12 đến 15 thanh niên, trang bị 2 khẩu súng cho mỗi liên toán. Bên cạnh đó, chúng còn được trang bị cả gậy gộc, lựu đạn. Đồng thời, địch tăng cường chiến tranh tâm lý.

Hàng ngày, chúng sử dụng loa phóng thanh hò hét, tuyên truyền các luận điệu chống cộng, hô hào diệt cộng, ca ngời chế độ ngụy. Thâm hiểm hơn, chúng tổ chức quần chúng phản động như “Phụ nữ liên đới”, “Đoàn Thanh niên”, “Hội ái hữu”… để ru ngủ, mê hoặc đồng bào. Nhằm đẩy mạnh đàn áp, địch còn thành lập và củng cố lại mạng lưới chỉ điểm, cho mật vụ trà trộn trong ấp để dò xét, do thàm tình hình, mật báo những người chúng nghi ngờ hoạt động cho cộng sản. Đối với những gia đình có người đi lính hay làm cho địch, chúng đề ra nhiều chính sách như tăng tiền trợ cấp tử nạn, tăng các khoản bồi thưởng, ưu tiên mua hàng khan hiếm và một số những khoản ưu đãi khác.

Ngay từ đầu, khi địch chủ trương xây dựng ấp chiến lược, chi bộ Đảng Điện Thắng đã tiến hành trừng trị bọn ác ôn, phản động, kết hợp tổ chức nhân dân đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn của chúng. Ở các ấp, ta đều cử người của ta vào làm liên gia trưởng cho địch, vận động bà con kéo dài công việc. Có lúc ngày bà con làm, nhưng đêm đến các tổ công tác hoặc một số quần chúng là cơ sở cách mạng, những gia đình được ta tuyên truyền, vận động lại lẻn ra phá đi, nhổ đi. Thế là sáng mai địch phải tổ chức làm lại, mất thời gian và công sức. Đây cũng là thời điểm tất cả các đảng viên đều được chia nhau bám trụ trong các ấp để hoạt động, giữ vững phong trào.

Thực hiện khẩu hiệu hành động của cách mạng là “Tấn công liên tục, phát triển phong trào”, lực lượng du kích, anh em trong đội an ninh vũ trang xã liên tục bám địch để tổ chức tiêu diệt. Tháng 8 năm 1961, đội du kích Điện Thắng phối hợp với lực lượng vũ trang huyện và đội du kích Điện Ngọc tổ chức trận diệt tề tở Điện Ngọc, tiêu diệt được tên Nguyễn Hữu Giao, Nguyễn Hữu Thanh và bắn bị thương một số tên khác. Tiếp đến, ngày 25 tháng 11 năm 1961, đội an ninh vũ trang Điện Thắng tổ chức trận đánh vào một toán dân vệ trong khi chúng tổ chức đi bắt nhân dân học tập. Trong trận này, lực lượng ta đã tiêu diệt 4 tên dân vệ.

Trận đánh tiêu diệt 4 tên dân vệ có tiếng vang, khiến bọn tay sai ở xã Thanh Trường hoang mang, không dám hoạt động. Có tên bỏ việc vì lo sợ. Trước tình hình ấy, Ban chỉ đạo ấp chiến lược quận Điện Bàn không còn cách nào khác ngoài việc cử thêm cán bộ và binh lính về đứng ở xã để lên dây cót tinh thần, trấn an bọn tề điệp. Chúng hung hăng tuyên bố “Kiên quyết không để xã Thanh Trường rơi vào tay Việt cộng”. Đồng thời, chúng bắt một số người được liệt vào dạng tình nghi lên tra tấn. Tuy nhiên, không ai khai báo điều gì có hại cho cách mạng, cho phong trào.

Cũng trong khoảng thời gian này, cơ sở Đảng của ta ở thôn Viêm Tây bị tổn thất nặng. Các đồng chí Trần Khôi, Trương Công Báu, Trần Tới, Trần Lại vẫn thường ẩn nấp ở hầm bí mật. Nhưng hôm ấy, do thời tiết quá nóng, ban ngày, các đồng chí ra ngoài hầm ngồi hóng mát. Không ngờ, ngay lúc đó, có một tên chỉ điểm tình cờ phát hiện. Hắn về ngay trụ sở địch báo cáo. Địch huy động lực lượng đến bao vây ngôi nhà. Khi thấy chúng rầm rập kéo đến, các đồng chí không thể rút lui, phải rúc xuống hầm bí mật. Tuy nhiên, chúng sục kỹ và tìm ra hầm bí mật. Địch gọi các đồng chí ra đầu hàng. Đồng chí Trần Khôi vừa chửi lại chúng vừa ném lựu đạn lên làm một số tên bị thương. Cuộc chiến đấu diễn ra không cân sức. Cuối cùng, đã có 3 đồng chí hy sinh ngay tại chỗ. Riêng đồng chí Trần Lại bị thương. Thế nhưng, khi địch tiến đến để thăm dò, đồng chí cố ném lựu đạn, sau đó vọt nhanh ra khỏi hầm, chạy về phía đông Thanh Quýt, ấn nấp vào cây rơm. Địch không dám lại gần. Chúng bắn đạn lửa thiêu cháy. Đồng chí thà chết, không ra hàng. Sự hy sinh của các đồng chí trở thành tấm gương sáng cho nhiều người học hỏi, noi theo.

Tháng 11 năm 1962, chấp hành Nghị quyết của Khu ủy V, Tỉnh ủy mở Hội nghị ở Nà Cau, huyện Tiên Phước nhằm đánh giá những mặt đã làm được và chưa làm được thời gian qua, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo phong trào. Hội nghị chủ trương tiếp tục phá ấp chiến lược, diệt tề, giành quyền làm chủ… Cũng trong Hội nghị này, tỉnh Quảng Nam được chia làm hai là Quảng Nam và Quảng Đà. Điện Thắng trực thuộc sự chỉ đạo của tỉnh Quảng Đà. Cơ quan của tỉnh mới chuyển về làng Đào, huyện Hiên. Tiếp đến, vào tháng 1 năm 1963, tại làng Đào, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Đà lần thứ V đã được tổ chức. Đại hội đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng, quán triệt chủ trương chung về mở ra giành quyền làm chủ nông thôn.

Năm 1963 cũng là năm mở đầu bằng chiến thắng Ấp Bắc giòn giã diễn ra vào tháng 2 làm dấy lên phong trào diệt ngụy, chống Mỹ sôi nổi trên toàn miền Nam. Tiếp đó là vụ đảo chính Ngô Đình Diệm khiến tình hình chính trị ở miền Nam càng thêm rối ren làm cho tinh thần binh lính ngụy hoang mang, rệu rã. Lúc này, Huyện ủy Điện Bàn mở lớp bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở các xã để chuẩn bị cao trào diệt ác, phá kèm, phá ấp chiến lược của địch, mở rộng quyền làm chủ. Tại Điện Thắng, sau khi học tập, đồng chí Trần Hân đã tổ chức phổ biến trong chi bộ Đảng chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Đà về việc tập trung mọi lực lượng, mọi khả năng phá ấp chiến lược.

Để thực hiện chủ trương này, chi bộ bàn bạc, thảo luận. Qua đó, các đồng chí trong chi bộ đưa ra nhiều phương án, biện pháp để phá ấp chiến lược. Trên cơ sở phân tích, chi bộ đã chọn ra phương án khả thi nhất. Sau đó, công tác chuẩn bị lực lượng, con người được khẩn trương tiến hành. Bấy giờ, phong trào cách mạng ở Điện Thắng đang lên, nhiều đồng chí tốt, đã qua thử thách chiến đấu, công tác được kết nạp Đảng. Đội an ninh vũ trang cũng được tăng cường. Hầu hết các đồng chí đảng viên trong chi bộ Đảng đều bám sát quần chúng, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân phá kèm, đồng lòng đứng lên “đồng khởi” ở đồng bằng, đập tan ấp chiến lược, một hình thứ trại tập trung trá hình của Mỹ ngụy ở địa phương. Theo kế hoạch, bước đầu, ta tổ chức phá lẻ tẻ. Mỗi đêm, ta dỡ đi vài chục mét rào, châm lửa đốt rồi rút lui. Khi điều kiện chín muồi, phá toàn bộ hệ thống ấp chiến lược ở Điện Thắng.

Đêm 13 tháng 11 năm 1963, chi bộ Đảng Điện Thắng đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy đồng khởi. Bấy giờ, được sự hỗ trợ của trung đội bộ đội lực lượng vũ trang huyện Điện Bàn do đồng chí Mai làm trung đội trưởng1, lực lượng an ninh xã tấn công vào trụ sở tề ngụy và trung đội dân vệ địch tại đồn Ngũ Giáp. Bị tấn công bất ngờ, địch hoàn toàn bị động. Ta nhanh chóng tiêu diệt 32 tên địch. Trong đó, có 9 tên tề ngụy, 23 tên dân vệ. Như vậy, cả mâm tề ngụy bị ta tiêu diệt gần hết. Ta cũng thu được 8 súng các loại, giải tán 240 tên liên gia trưởng. Cùng lúc, các đội xung kích đấu tranh chính trị, binh vận do các mẹ, chị như Nguyễn Thị Điểm, Trần Thị Huynh, Phan Thị Tảo, Nguyễn Thị Tường kết hợp với các đồng chí do chi bộ cử ra lãnh đạo bà con nhất tề nổi dậy. Ta bắt loa tuyên truyền, kêu gọi binh lính địch quay về với cách mạng, hô hào toàn dân phá hủy hoàn toàn các bót canh, hàng rào, lúy, hầm chông của địch.

Bấy giờ, khí thế cách mạng của nhân dân xã Điện Thắng lên cao hơn bao giờ hết. Mọi người, bất kể già trẻ trai gái đồng loạt ra phá hủy hệ thống ấp chiến lược liên hoàn của địch. Tiếp đó, Ủy ban Nhân dân Tự quản xã Điện Thắng1 được thành lập tại thôn Thanh Tú do đồng chí Nguyễn Trung Chính làm Chủ tịch. Phó Chủ tịch là các đồng chí Trần Du và Đỗ Đức. Có thể nói, sự ra đời của Ủy ban Nhân dân Tự quản là kết quả tất yếu và thắng lợi to lớn của phong trào “Đồng khởi” ở địa phương. Lịch sử phong trào đấu tranh của nhân dân Điện Thắng thực sự bước sang trang mới. Thắng lợi của phong trào“Đồng khởi” cũng chứng tỏ tổ chức cơ sở Đảng và nhân dân Điện Thắng đã vượt qua thời kỳ thử thách, đen tối trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã không ngững lớn mạnh về thế và lực, đẩy địch và thế bị động, đối phó.

Cũng vào cuối năm 1963, tình hình trong nước có nhiều chuyển biến. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Ngô Đình Diệm bị lất đổ, Dương Văn Minh lên thay, làm tổng thống. Sự kiện Diệm bị lật đổ mở đầu cho thời kỳ nội bộ nguỵ quyền rơi vào cuộc khủng hoảng triền miên. Chỉ trong vòng 20 tháng, cái gọi là Chính phủ Việt Nam Cộng hoà đã xảy ra 14 cuộc đảo chính, phản đảo chính với 6 chính phủ thay nhau lên nắm chính quyền. Tháng 8 năm 1964, Nguyễn Khánh họp Hội đồng tướng lĩnh ở Vũng Tàu nhằm thông qua Hiến chương Vũng Tàu, loại bỏ những tướng tá không ăn cánh, nắm trọn quyền Tổng thống, Chủ tịch Hội đồng quân nhân và Tổng Tư lệnh nguỵ quân. Những hành động của Nguyễn Khánh góp phần làm nội bộ các tướng lĩnh nguỵ càng mâu thuẫn, dẫn đến phong trào đấu tranh chống Hiến chương Vũng Tàu mạnh mẽ và quyết liệt hầu khắp miền Nam.

Cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Sài Gòn tác động đến tình hình Điện Thắng. Nhân dân càng tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng. Nhờ vậy sau khi quần chúng nổi dậy phá kèm, phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ, bộ máy địch ở xã vẫn còn nhưng chúng hoang mang, rệu rã. Lúc này, đồng chí Hồng Thắng, Huyện ủy viên Điện Bàn, trực tiếp lãnh đạo chi bộ, đã có nhiều sáng kiến vận động nhân dân khôn khéo đấu tranh hợp pháp với địch. Lực lượng ta về cơ bản cô lập được bọn tề ngụy, trấn áp, răn đe bọn điệp ngầm, bọn chỉ điểm, tổ chức nhiều cuộc mít tinh nhằm tuyên truyền, vận động quần chúng. Có nhiều cuộc mít tinh, sinh hoạt văn nghệ kéo dài hàng giờ đồng hồ, thu hút hơn ngàn người tham dự. Trong những cuộc mít tính, sinh hoạt văn nghệ, lực lượng an ninh và đội du kích xã thường xuyên canh gác, bảo vệ nhân dân.

Lần đầu tiên sau 10 năm bị kèm kẹp, kiểm soát, khủng bố dã man, bà con Điện Thắng mới hưởng được không khí tự do. Đây cũng là thời điểm nhiều tổ chức quần chúng được thành lập như Đoàn Thanh niên giải phóng, Hội Phụ nữ giải phóng, Hội mẹ chiến sĩ… Đêm đến, các đoàn thể quần chúng lại sôi nổi hội họp, sinh hoạt, tổ chức những hoạt động bổ ích. Đặc biệt, Ban kinh tài xã cũng ra đời. Trưởng ban là đồng chí Cảm. Đáng chú ý, chỉ trong mấy tháng, đồng chí đã quyên góp được hàng trăm ngàn đồng, hàng ngàn ang gạo ủng hộ vùng giải phóng, ủng hộ bộ đội. Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân tự quản Điện Thắng tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân hăng hái đăng ký đi dân công phục vụ chiến dịch. Trong số những người hưởng ứng phong trào, Ủy ban đã chọn 30 anh chị em1 gửi đi.

Có thể nói, ở Điện Thắng lúc ấy khí thế cách mạng lên cao khiến bọn tề ngụy không dám hoạt động. Nhiều tên còn tự nguyện đến Ủy ban Nhân dân tự quản xã để xin được lập công chuộc tội. Khi tổ chức liên gia trưởng do địch lập ra đều bị giải tán, một số tên phải trốn vào Vĩnh Điện hay ra Đà Nẵng, không dám sống ở địa phương. Các đồn địch ở Ngũ Giáp, Gò Phật, Trảng Nhật hầu như bị vô hiệu hóa. Địch không dám cản trở bà con nhưng cũng không dám bỏ vị trí. Các mẹ, các chị trong tổ binh vận luôn tích cực hoạt động, thường xuyên đến đồn địch vận động binh lính ngụy quay súng về với cách mạng.

Phối hợp với cao trào binh vận, ngày 5 tháng 6 năm 1964, đại đội đặc công 35 phối hợp với đội an ninh vũ trang Điện Thắng tổ chức tấn công đồn Ngũ Giáp, tiêu diệt gần hết lực lượng địch trong đồn. Bọn còn lại bỏ chạy tán loạn. Cuộc tấn công này càng khiến tinh thần binh lính địch, bọn tề ngụy đã rệu rã càng rệu rã hơn. Quần chúng thêm phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng.

Năm 1964, trong nhiều tháng liền, Điện Thắng gần như là vùng tự do. Ban ngày, địch cho quân đi tuần tiễu nhằm bảo vệ cho việc giao thông trên trục đường quốc lộ số 1. Chúng không để ý đến các hoạt động ban đêm của lực lượng cách mạng. Còn ta chủ yếu giữ vững phong trào. Khi chưa đủ lực lượng thì chưa tấn công địch. Nhờ vậy, trong thời gian dài, chi bộ, chính quyền và cơ sở ta có nhiều hoạt động, phát động nhiều phong trào. Trong đó, tiêu biểu nhất là phong trào tòng quân nhập ngũ. Kết quả, trong tháng 7 năm 1964, cả xã có gần 200 thanh niên hăng hái đăng ký gia nhập lực lượng vũ trang, cầm súng chiến đấu chống kể thù. Trước khi anh em lên đường, đồng bào đã tổ chức gặp mặt, liên hoan văn nghệ với nhiều tiết mục tự biên tự diễn sôi nổi, hào hứng.

Tuy nhiên, sau đó, địch tổ chức phản kích nhằm chiếm lại Điện Thắng, một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ ra vào Đà Nẵng, nối liền Đà Nẵng với Hội An. Để thực hiện âm mưu này, chúng mở một số cuộc càn quét lẻ tẻ, tổ chức pháo kích vào một số vị trí chúng nghi ngờ lực lượng ta ẩn nấp. Nhưng những hoạt động đó không mang lại kết quả như mong đợi, nhất là chưa vực dậy được tinh thần đang rệu rã của bọn tề ngụy cũng như chưa tiêu diệt được lực lượng cách mạng. Thấy vậy, địch chủ trương đưa một đại đội lính ngụy phối hợp với bọn lính đang trú tại đồn Ngũ Giáp tổ chức một cuộc hành quân lớn với mục địch đi xăm hầm bí mật để bắt cán bộ, đảng viên, hăm dọa nhân dân. Tiếp đó, chúng đóng quân tăng cường ở Gò Phật. Đồng thời, chúng còn chia nhau đóng ở một số nhà xung quanh trụ sở tề xã.

Thừa cơ hội, một số tên ác ôn đang nằm im, đã bắt đầu ngóc đầu dậy chống phá cách mạng. Trước những diễn biến của tình hình, tháng 8 năm 1964, chi bộ Điện Thắng tổ chức cuộc họp ở An Thanh do đồng chí Lê Thị Sâm, Bí thư, làm chủ tọa. Cuộc họp đã kiểm điểm công tác thời gian qua, phân tích những mặt mạnh, mặt yếu và quyết định những chủ trương, biện pháp đối phó với âm mưu, thủ đoạn của địch. Theo đó, phương hướng sắp đến của chi bộ là tiếp tục vận động nhân dân phá thế kèm kẹp của địch tiến đến giành lại quyền làm chủ, liên tục tấn công địch, tăng cường công tác đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, đấu tranh binh vận.

Để tạo thanh thế, khích lệ tinh thần quần chúng, một trong những hoạt động nổi bật của chi bộ Điện Thắng là tiến hành diệt ác trừ gian. Ban an ninh xã đã cử ra 2 đồng chí Ngô Mây và Nguyễn Hữu Lốt trừng trị tên ác ôn Lê Tự Hùng. Đây là tên ác ông đã gây nhiều tội ác dã man đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân ở địa phương. Là người Điện Thắng nên Lê Tự Hùng thông thạo đường đi nước bước. Hắn thường dẫn 1 trung đội dân vệ vừa để bảo vệ hắn, vừa đi lùng sục, bắt bớ, đàn áp bà con. Chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 1964, chính tên Hùng đã trực tiếp bắt, giết 4 cán bộ, đảng viên trong xã. Lê Tự Hùng đe dọa nhiều gia đình, nhất là những gia đình cơ sở cách mạng.

Nắm rõ sự căm thù của nhân dân Điện Thắng đối với bản thân mình, Lê Tự Hùng rất cảnh giác. Hắn làm nhà bên cạnh đồn Ngũ Giáp, xung quanh nhà rào 5 lớp kẽm gai. Phía sau là bờ sông. Phía trước luôn có 2 xe bọc thép túc trực thường xuyên. Như vậy, tiêu diệt Lê Tự Hùng không phải là chuyện dễ. Cho nên, sau khi được giao nhiệm vụ, hai đồng chí Ngô Mây và Nguyễn Hữu Lốt nghiên cứu rất ký, tìm ra phương án tốt nhất. Đêm ngày 3 tháng 10 năm 1964, các đồng chí khôn khéo, bí mật cắt hàng rào dây thép gai, âm thầm đột nhập vào buồng trong, giải thoát cho 5 cán bộ bị bắt trước đó.

Tiếp đến, các đồng chí quay ra ngoài, tìm tới chỗ ngũ của Lê Tự Hùng. Hắn đang ngủ say trên chiếc phản. Bên cạnh có 2 em bé. Các đồng chí bình tĩnh, nhanh nhẹn bế các em đi chỗ khác rồi dùng lựu đạn giết chết tên Hùng tại chỗ. Cái chết của tên ác ôn, có nhiều nợ máu Lê Tự Hùng có tiếng vang lớn, làm rúng động bọn ngụy tề ở Điện Thắng. Trong lúc địch hoang mang, lo sợ thì quần chúng vô cùng phấn khởi, tạo điều kiện đẩy mạnh công tác diệt ác, phá kèm phát triển mạnh trong toàn xã.

Bấy giờ, có một sự kiện gây chấn động mạnh dư luận trong và ngoài nước có tác động mạnh đến tâm tư, tình cảm của nhân dân Điện Thắng. Ngày 15 tháng 10 năm 1964, anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, người con quang vinh của mảnh đất Điện Thắng anh hùng, đã anh dũng hy sinh tại pháp trường của địch ở khám Chí Hòa, Sài Gòn. Sự hy sinh của anh Nguyễn Văn Trỗi tạo nên khí thế cách mạng sôi nổi, góp phần đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng ở khắp nơi. Trên cơ sở đó, huyện Điện Bàn đã phát động đợt tuyển quân noi gương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Hưởng ứng đợt tuyển quân này, ở Điện Thắng, đã có gần một trăm thanh niên “thế hệ anh Nguyễn Văn Trỗi” tình nguyện lên đường đánh Mỹ. Đồng thời, cũng trong dịp này, chi bộ Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng, đặc biệt tổ Đảng ở thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng đã thường xuyên đến giúp đỡ, động viên gia đình anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Điều đó thể hiện tình đồng chí, đồng bào sâu sắc, thủy chung của người dân Điện Thắng.

III- GÓP PHẦN CÙNG QUÂN VÀ DÂN CẢ NƯỚC ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1965 – 1968):

Từ cuối năm 1964, đầu năm 1965, tình hình chiến trường có nhiều thay đổi. Địch liên tiếp gặp nhiều thất bại. Trước nguy cơ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, đế quốc Mỹ quyết định đưa ồ ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam để thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Tại Đà Nẵng, ngày 8 tháng 3 năm 1965, đại đội đầu tiên của tiểu đoàn 3 thuộc lữ đoàn thuỷ quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên bãi biển Phú Lộc, Hoà Vang. Đây là đơn vị quân Mỹ đầu tiên đổ bộ vào miền Nam. Đến cuối năm 1965, địch đã tập trung 184.000 quân Mỹ, 20.000 quân các nước chư hầu cùng 500.000 quân nguỵ. Với lực lượng ấy, đế quốc Mỹ hy vọng sẽ thực hiên thành công chiến lược “tìm và diệt” với mục địch “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng.

Trước những diễn biến của tình hình, tháng 3 năm 1965 và tháng 12 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã liên tiếp triệu tập hội nghị lần thứ 11 và 12, quyết định nhiều vấn đề cơ bản, quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị quyết định “Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà” 1. Có thể nói, từ đây, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới.

Ngay sau khi đế quốc Mỹ đổ quân Mỹ và chư hầu vào Đà Nẵng, tháng 3 năm 1965, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà họp, khẳng định quyết tâm đánh Mỹ “Chưa giải phóng miền Nam thì còn đánh, chiến tranh gì cũng đánh, đối tượng nào cũng đánh, đông bao nhiêu cũng đánh và lâu dài bao nhiêu cũng đánh… chúng ta có nhiệm vụ đánh Mỹ trước tiên bằng hai chân, ba mũi giáp công để đóng góp kinh nghiệm cho toàn miền và góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ”2. Đồng thời, Tỉnh ủy phát động cao trào chống Mỹ trong các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Tháng 5 năm 1965, đại đội lính thủy đánh bộ đầu tiên đến Điện Thắng. Đại đội này khoảng 320 tên, đóng tại Trảng Nhật. Mục đích của lực lượng Mỹ ở đây nhằm hỗ trợ cho ngụy quân thực hiện kế hoạch “bình định” với tham vọng biến Điện Thắng thành khu vực an toàn của chúng. Được Mỹ tiếp sức, bọn ngụy quân, ngụy quyền tỏ ra hung hăng hơn trước. Cùng lúc đó, nhân dân lại e dè. Một số dao động, lo lắng. Cũng không ít cán bộ, chiến sĩ ta băn khoăn khi thấy lực lượng địch quá đông, vũ khí lại tối tân, liệu ta có thể đánh và đánh thắng Mỹ?

Để giải đáp những băn khoăn, lo lắng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tháng 5 năm 1965, Đảng bộ xã Điện Thắng triệu tập Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất nhằm xác định quyết tâm đánh Mỹ, củng cố lập trường, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đại hội đã bàn và đi đến thống nhất quan điểm dù lực lượng giữa ta và địch có chênh lệch nhưng nếu có biện pháp đúng và tổ chức tốt thì ta vẫn chiến thắng. Nhằm khích lệ tinh thần, thể hiện quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, Đảng bộ đề ra kế hoạch tổ chức một trận đánh vỗ mặt vào quân Mỹ để đem lại niềm tin cho quần chúng. Trận đánh mở đầu thời kỳ Mỹ đổ bộ vào miền Nam sẽ tạo khí thế cho nhân dân toàn xã tham gia đấu tranh chống dồn dân, xúc tát dân vào các khu dồn, góp phần làm thất bại âm mưu “bình định” của địch.

Sau Đại hội, Ban an ninh và du kích xã Điện Thắng vạch kế hoạch triển khai Nghị quyết Đại hội. Đồng thời, phương án tác chiến được ta quyết định thực hiện là chờ khi địch mở trận càn nhỏ, lực lượng vũ trang xã sẽ chia làm hai bộ phận. Một bộ phận chống càn, kéo địch về phía trước, lợi dụng địa hình địa vật tiêu diệt chúng. Bộ phận còn lại sẽ luồn về phía sau diệt bọn tề ngụy, bọn ác ôn nhằm hỗ trợ quần chúng đấu tranh và phân tán lực lượng địch.

Đúng theo kế hoạch, ngày 25 tháng 7 năm 1965, một trung đội Mỹ kéo quân vào càn quét ở thôn An Thanh thuộc xã Điện Thắng và nhiều thôn khác thuộc xã Điện Hòa. Căn cứ phương án đã đề ra, khoảng 10 giờ sáng hôm ấy, đội an ninh vũ trang và lực lượng du kích xã Điện Thắng tổ chức chặn đánh địch. Trận đánh diễn ra căng thẳng. Anh em lợi dụng triệt để địa thế thuận lợi để tiêu diệt chúng. Kết quả, lực lượng ta đã diệt và làm bị thương 13 tên, thu 2 khẩu súng Garant. Cùng lúc đó, một bộ phận khác nhanh chóng chận đánh 2 tên ác ôn khét tiếng trên quốc lộ số 1. Kết quả, ta tiêu diệt ngay tên Hà Sinh, bí thư Quốc dân đảng kiêm xã trưởng xã Thanh Trường, tức xã Điện Thắng, và tên Lê Tự Sẳng, cảnh sát trưởng. Qua đó, ta thu được 2 khẩu súng ngắn của chúng.

Trận đánh mở màn diệt Mỹ, trừng trị bọn ác ôn đã thu được thắng lợi. Tuy số địch ta tiêu diệt không nhiều nhưng trận đánh này có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Nó chứng tỏ chi bộ và nhân dân Điện Thắng đã dám đánh Mỹ và thắng Mỹ. Không những thế, lần đầu tiên một trận đánh được đội an ninh vũ trang và anh em du kích xã tiến hành đã có sự phối hợp nhịp nhàng, nói lên sự trưởng thành của lực lượng vũ trang Điện Thắng. Đặc biệt, sau trận đánh, quần chúng nhân dân rất phấn khởi. Điều đó khích lệ tinh thần nhân dân, tạo điều kiện đưa phong trào cách mạng Điện Thắng đi lên.

Song song với công tác đấu tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận của nhân dân Điện Thắng cũng phát triển có chiều sâu. Cuối tháng 7 năm 1965, chị Nguyễn Thị Diệp, người Bồ Mưng, đi gặt lúa ở Gò Quán. Đúng lúc đó, có hai tên lính thách nhau xem ai bắn hay hơn. Hậu quả là, chúng bắn chết chị lúc 4 giờ chiều. Được tin cấp báo của đồng bào, Ban Chấp hành Đảng ủy xã Điện Thắng hội ý nhanh và quyết định vận động nhân dân đứng lên đấu tranh. Ngay sáng hôm sau, đồng chí Trần Hân, Bí thư Đảng ủy xã, đến gia đình chị Nguyễn Thị Diệp, đề nghị đem xác chị lên quận Điện Bàn để quần chúng đấu tranh chống địch vô cớ bắn giết đồng bào. Đảng ủy cũng phân công chị Nguyễn Thị Chung đứng ra lãnh đạo trực tiếp cuộc đấu tranh này.

Có thể nói, công tác tổ chức cuộc đấu tranh được tính toán chu đáo, phân công người hô khẩu hiệu, người đứng ra binh vận. Chị Nguyễn Thị Chung được giao đóng vai chị ruột nạn nhân. Cuộc đấu tranh diễn ra không khác một cuộc biểu tình tuần hành. Lực lượng tham gia phần đông là chị em phụ nữ, thanh thiếu niên, ông già, bà lão… Số người tham gia từ Điện Thắng kéo lên quận Điện Bàn hơn 500 người. Khi về, từ 700 đến 800 người. Họ vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu “Đả đảo bọn ác ôn!”, “Chặt đầu bọn độc tài!”, “Hoan hô anh em binh sĩ đồng tình ủng hộ nhân dân!”. Khi vào đến Vĩnh Điện, đoàn biểu tình đông thêm vì được nhân dân dọc hai bên đường đồng tình ủng hộ. Chẳng mấy chốc, đoàn người ùa vào quận đường Điện Bàn.

Chị Nguyễn Thị Chung, trong vai chị ruột của chị Nguyễn Thị Diệp, vừa đập phá bàn làm việc của địch, vừa khóc lóc, kể lể thảm thương. Chị cũng kêu gọi đồng bào lên án bọn giết người. Trước khí thế bừng bừng phẫn nộ của quần chúng, bọn địch đành phải nhượng bộ, cam kết bồi thường cho nạn nhân 50.000 đồng và 300kg gạo, hứa từ nay trở đi không bắn giết bừa bãi dân lành. Chúng còn giả nhân giả nghĩa để chúng điều xe chở xác nạn nhân về Điện Thắng nhưng đồng bào kiên quyết không chịu. Lúc này, bà con đã bao quanh thi hài chị Nguyễn Thị Diệp, vừa đưa về vừa tranh thủ thời gian hô vang khẩu hiệu trên đường đi “Đả đảo bọn giết người!”.

Cuộc đấu tranh chính trị kết thúc thắng lợi đem lại niềm tin cho quần chúng nhân dân. Trước đây, khi địch cho xe cán lúa, phá mồ mả, bà con cũng nhiều lần nổi lên đấu tranh chống lại hành động của địch. Nhưng, đó là những cuộc đấu tranh có quy mô nhỏ, ảnh hưởng không lớn. Do vậy, cuộc đấu tranh tháng 7 năm 1965 thực sự là cuộc biểu dương sức mạnh của quần chúng, của đội quân tóc dài xã Điện Thắng. Nội dung cuộc đấu tranh, ngoài việc tố cáo tội ác của kẻ thù, dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, quần chúng đã chĩa mũi dùi vào chế độ Sài Gòn. Và, thắng lợi của cuộc đấu tranh để lại nhiều bài học, nhiều kinh nghiệm quý giá, bổ ích cho Đảng Bộ xã trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo các phong trào cách mạng tại địa phương.

Đây cũng là thời điểm Mỹ ngụy ráo riết thực hiện kế hoạch 2 gọng kìm “tìm diệt”“bình định” ở đồng bằng Liên khu V nói chung và Quảng Đà nói riêng. Trong đó, Điện Thắng và các xã vùng ven Đà Nẵng là một trong những mục tiêu địch triển khai đầu tiên. Cho nên, ngày 1 tháng 8 năm 1965, chúng tập trung lực lượng gồm 1 trung đội Mỹ, 1 tiểu đoàn chủ lực ngụy và 2 đại đội bảo an có máy bay, đại bác yểm trợ mở cuộc hành quân càn quét dài ngày vào 3 xã phía Bắc của huyện Điện Bàn là Điện Ngọc, Điện Thắng và Điện Hòa. Trong cuộc càn quét có quy mô lớn này, địch giết và làm bị thương hàng trăm đồng bào ta. Đặc biệt, thôn Phong Lục, một thôn gần như là vùng giải phóng, bị địch đánh phá nặng nề nhất, dữ dội nhất. Chúng tàn sát dã man 31 người, đốt cháy 20 nóc nhà, phá hủy 15 ngôi nhà khác. Ta cũng hy sinh 2 đồng chí khi địch phát hiện ra hầm bí mật. Ở các thôn khác như thôn An Thanh, địch phá nhiều nhà cửa, bắn chết nhiều trâu bò, làm bị thương 5 đồng bào.

Trước những thiệt hại về người và của do trận càn của địch gây ra, Đảng bộ Điện Thắng kịp thời vận động nhân dân đấu tranh. Cũng như cuộc đấu tranh trước, đồng bào rủ nhau khiêng xác nạn nhân vào tận quận đường Điện Bàn đòi địch phải bồi thường. Đồng thời, một bộ phận quần chúng khác ở Điện Thắng phối hợp với đồng bào thôn La Thọ, xã Điện Hòa kéo đến Trảng Nhật đấu tranh chống địch bắn giết, đốt nhà… Kết cuộc, địch phải nhượng bộ, cam kết bồi thường và xin lỗi bà con.

Tháng 5 năm 1965, khi nhận được tin báo có đoàn xe 5 chiếc của địch chạy từ Đà Nẵng vào Điện Bàn, Đảng bộ liền họp bàn phương án tấn công. Theo đó, lực lượng ta gồm 1 tiểu đội du kích và 6 đội viên đội an ninh vũ trang sẽ được chia thành 3 tổ. Tổ đứng chân ở phía Nam và phía Bắc có nhiệm vụ chặn viện. Tổ chính diện sẽ đánh chiếc xe cuối cùng. Sau khi thống nhất, cả 3 tổ vào vị trí chiến đấu. Lúc đoàn xe địch kéo vào, chờ cho 4 chiếc đi đầu lọt qua ổ phục kích, chiếc thứ 5 vừa vào tầm ngắm, lực lượng ta đồng loạt nổ súng. Trận phục kích thắng lợi. Ta tiêu diệt 11 tên địch. Một chiếc xe bị bắn cháy. Ngoài ra, lực lượng ta còn thu 6 khẩu súng, trong đó có 1 khẩu M79 cùng nhiều lựu đạn, đạn dược. Đây là trận phục kích ban ngày táo bạo, bất ngờ những cũng rất mưu trí, dũng cảm của anh em du kích và đội an ninh vũ trang xã.

Bước sang năm 1966, phong trào cách mạng Điện Thắng tiếp tục phát triển, thu được nhiều kết quả. Mở đầu là những thắng lợi ngay trong tháng giêng năm 1966, tức những ngày giáp Tết năm Bính Ngọ. Bấy giờ trên địa bàn xã diễn ra 3 trận đánh. Đó là trận tiêu diệt binh lính tiểu đoàn biệt động quân số 11 tại thôn Bồ Mưng, trận pháo kích vào sân bay Đà Nẵng và trận bố trí chặn viện, tiêu diệt địch. Đêm ngày 10 tháng giêng, tiểu đoàn 1 bộ đội chủ lực và 1 đơn vị tên lửa mặt đất về phối hợp với du kích xã bàn kế hoạch diệt địch. Theo phương án tác chiến của cấp trên đúng ngày 11 tháng 3 năm 1966 sẽ hợp đồng với các đơn vị bạn để pháo kích vào sân bay Đà Nẵng.

Công việc chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Hầu như toàn bộ lực lượng đảng viên và du kích xã Điện Thắng được huy động vào việc tiếp đạn, vận chuyển vũ khí, dẫn đường cho bộ đội, tổ chức trinh sát, nắm tình hình, động tĩnh của địch. Nhiều bà con còn tham gia vác các bộ phận của dàn phóng tên lửa và đạn dược sang các xã bạn, nấu cơm tiếp tế cho bộ đội. Đúng 9 giờ đêm ngày 14 tháng 1 năm 1966, với sự hỗ trợ có hiệu quả của lực lượng du kích xã, tiểu đoàn 1 bộ đội chủ lực tỉnh Quảng Đà đã đánh tập kích tiểu đoàn biệt động quân. Ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Địch bị tiêu diệt gần hết. Số còn lại bỏ chạy. Cùng lúc đó, tên lửa của ta trên các địa bàn Điện Thắng, Điện Ngọc, Điện Hòa… đồng loạt phát hỏa, cấp tập nã đạn vào sân bay Đà Nẵng. Trong trận này, ta đã phá hủy 60 máy bay, diệt gần 100 tên Mỹ, đốt cháy hơn 1 triệu lít xăng.

Những cuộc tấn công bất ngờ của ta khiến địch lúng túng đối phó. Khi bộ đội ta thu dọn chiến trường xong và rút đi, chúng mới điều một đoàn xe từ Đà Nẵng kéo vào truy kích. Mục đích của kẻ thù là truy tìm lực lượng tên lửa mặt đất của ta để tiêu diệt. Đúng như kế hoạch đã dự kiến, lúc ấy, tổ du kích gồm 4 đồng chí người Điện Thắng là các đồng chí Nguyễn Khôi, Nguyễn Đăng Ất, Nguyễn Đức Ba và Nguyễn Văn Chi đã phục sẵn. Các đồng chí được giao nhiệm vụ gây rối loạn đội hình địch, cản bước tiến của chúng là chính. Chấp hành mệnh lệnh, các đồng chí nhắm thẳng vào giữa đoàn xe mà bắn. Chiếc xe nhãn hiệu Dodge chở 1 tiểu đội lính ngụy bị ta bắn cháy khiến 7 tên lính địch bị chết ngay tại chỗ, 2 tên khác bị thương. Đoàn xe bị tấn công bất ngờ làm địch hoảng hốt, nổ súng loạn xạ để chống cự. Nhân cơ hội, các đồng chí nhanh chân rút lui an toàn.

Phát huy thắng lợi, tháng 5 năm 1966, tiểu đội du kích Bồ Mưng do đồng chí Trần Kỳ chỉ huy tổ chức đánh tập kích 1 trung đội biệt động quân của địch đóng ở gần chợ Mới. Để trận đánh thắng lợi, lực lượng ta được chia thành 3 mũi bao vây địch, bất thần nổ súng, tiêu diệt 14 tên. Số còn lại bỏ chạy tán loạn. Trong số những tên bị ta tiêu diệt có 3 tên trung úy. Ta đưa những tên này về chôn ở xóm Trảng ở thôn Thanh Quýt. Biết thế nào địch cũng sẽ đến lấy xác, ta cố ý rải nhiều đất mới cho chúng dễ nhận địa điểm. Đồng thời, gài vào đó 1 quả mìn. Đúng như dự đoán, khi 4 tên lính vào đó đào xác, mìn phát nổ khiến chúng chết ngay tại chỗ. Tiếp đến, vào tháng 6 năm 1966, 1 tiểu đội lính Mỹ kéo đi lùng sục bị lực lượng du kích cũng do đồng chí Trần Kỳ chỉ huy tổ chức đánh tập kích. Ta tiêu diệt toàn bộ tiểu đội địch, thu nhiều súng đạn.

Trong lúc này, tình hình trên chiến trường Quảng Đà chuyển sang thời kỳ ác liệt. Từ mùa hè năm 1966, Mỹ ngụy tập trung quân, ra sức đánh phá, càn quét nhằm thực hiện kế hoạch “bình định” các vùng nông thôn và đồng bằng. Với thủ đoạn “đốt sạch”, “phá sạch”, “giết sạch” chúng càn trắng tất cả những vùng chúng cho rằng tình hình an ninh không bảo đảm. Chúng chà đi xát lại nhiều lần nhằm đẩy lực lượng ta ra xa, thực hiện dồn dân, lập ấp chiến lược và mở rộng vành đai bảo vệ Đà Nẵng. Trước những âm mưu, thủ đoạn của địch, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà chủ trương phải thực hiện “ba bám” là Đảng bám dân, dân bám đất, bộ đội và du kích bám đánh địch. Chủ trương của Tỉnh ủy nhanh chóng được quán triệt một cách sâu sắc ở cơ sở. Từ “ba bám”, qua thực tiễn cụ thể ở các địa phương, Tỉnh ủy đã bổ sung thêm 1 bám thành “bốn bám” là cấp trên bám cấp dưới.

Tại Điện Thắng, chủ trương “ba bám” rồi đến “bốn bám” được triển khai sâu rộng đến từng thôn, từng đồng chí. Nhờ vậy, trong thời gian này, các ban đấu tranh chính trị, binh địch vận, kinh tế… đều được kiện toàn về mặt tổ chức, con người. Trong đó, tỷ lệ đảng viên chiếm đến 30%. Để đạt được kết quả này, trong những năm qua, Đảng bộ chú ý phát hiện, bồi dưỡng, kết nạp Đảng những đồng chí kinh qua công tác thực tiễn, kinh qua rèn luyện, chiến đấu và lập nhiều thanh tích, góp phần đưa phong trào cách mạng ở địa phương lên cao. Kết quả, những năm từ 1961 đến 1966, Đảng bộ đã kết nạp hơn 50 đồng chí. Đây cũng là thời điểm tất cả các thôn ở Điện Thắng đều có chi bộ Đảng.

Trên cơ sở thực hiện công tác “bốn bám” tốt, mặc dù tình hình có nhiều khó khăn, Đảng bộ và nhân dân Điện Thắng vẫn đạt nhiều thành tích trong công tác, chiến đấu. Đặc biệt là trận đánh phối hợp vào đồn Ngũ Giáp giữa trưa ngày 14 tháng 7 năm 1966. Đồn Ngũ Giáp đã bị lực lượng ta đánh nhiều lần. Nhưng do vị trí đồn đặc biệt quan trọng là bảo vệ cầu Thanh Quýt, là điểm nối liên hoàn trong hệ thống phòng ngự, kèm kẹp của địch ở các vùng liên xã phía Bắc huyện Điện Bàn nên liền sau đó, địch luôn tìm cách phục hồi lại. Bọn lính trong đòn thường chia quân đi lùng sục, bắt bớ nhân dân trong xã để hạch sách, tìm hầm bí mật của ta. Chúng cũng thường xuyên gây khó dễ cho bà con như lục soát đồ đạc, tìm cớ bắt người để ăn tiền hối lộ.

Trước tình hình ấy, nhằm đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, Huyện ủy Điện Bàn quyết định mở cuộc tấn công tiêu diệt đồn Ngũ Giáp. Chấp hành chủ trương của huyện, Đảng bộ xã Điện Thắng triệu tập cuộc họp giữa Ban an ninh xã, Xã đội và bộ đội huyện để bàn cách đánh đồn Ngũ Giáp. Phương án tác chiến được xây dựng trên nguyên tắc bảo đảm sự bí mật, bất ngờ, tận dụng triệt để sự sơ hở của địch. Đáng chú ý, qua điều tra, theo dõi, ta nhận thấy tuy quân số địch ở đồn đông, lên đến 50 tên nhưng ban ngày chúng tổ chức phòng thủ rất chủ quan, lỏng lẻo. Thông thường, đến khoảng 11 giờ 30 hàng ngày, chúng tập trung ăn trưa, chỉ để lại vài tên gác cửa. Riêng cổng đồn chỉ khép hờ, có thể ra vào dễ dàng. Có thể nói, đây là thời điểm thuận lợi nhất để lực lượng ta tổ chức tấn công, tiêu diệt địch.

Theo kế hoạch, trưa ngày 14 tháng 7 năm 1966, ta bố trí một tiểu đội phục sẵn ở Phong Ngũ, một tiểu đội khác ở Thanh Quýt. Hai tiểu đội này sẽ phối hợp để tập kích, hỗ trợ cho lực lượng tấn công đồn Ngũ Giáp. Đúng 10 giờ sáng ngày hôm ấy, lực lượng chính sau khi chuẩn bị ở nhà ông Lê Thi, cơ sở cách mạng thôn Viêm Tây, tất cả leo lên ba chiếc xe bò loại lớn, mỗi xe có 4 người trang bị vũ khí đầy đủ. Phía bên trên xe bò, ta dùng tre bắt cong thành vòm, đổ phân lên trên để ngụy trang, che mắt địch. Mỗi chiếc có hai đồng chí du kích hợp pháp kéo thẳng đi, hướng về phía đồn Ngũ Giáp. Trong đó, chỉ huy là các đồng chí Tranh, Hườn và đồng chí Luận.

Trên đường đi, một tình huống ngoài dự kiến đã xảy ra. Có một đoàn xe Mỹ đi hành quân cùng chiều. Anh em cố tình kéo chậm lại để xe Mỹ qua hết. Theo phương án, đúng 12 giờ 15 phút, những chiếc xe này phải đến ngay trước cổng đồn Ngũ Giáp. Bấy giờ, bọn lính mặc quần đùi, ở trần, đang nghỉ trưa. Chỉ có một tên lính gác trên lô cốt. Đồng chí Tranh kéo chiếc xe đầu, vừa đi vừa canh chừng cự ly, và tiến đến lô cốt cuối đồn. Chiếc thứ hai dừng lại tại cổng đồn. Chiếc thứ ba ở vị trí lô cốt đầu tiên. Tuy nhiên, lại thêm một khó khăn khác. Không biết vì lý do gì, khi đi ăn cơm, địch lại khóa cổng. Sự cố này khiến ta bị bất ngờ. Nhưng, đồng chí Trần Kỳ, chỉ huy, vẫn quyết định đánh. Khi hiệu lệnh tấn công nổ ra, các đồng chí nhanh chóng nhảy ra khỏi xe bò, bắn tiểu liên, ném thủ pháo, lựu đạn tới tấp vào lô cốt, đánh vào nhà năn địch.

Cùng lúc đó, các đồng chí ở hai xe còn lại ném lựu đạn vào bót gác hai đầu cầu, tiêu diệt bọn địch ở hai lô cốt này. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Đây cũng là thời điểm lực lượng bên ngoài tấn công hỗ trợ vào binh lính địch ở các quán ăn, quán giải khát trước đồn. Nghe súng nổ, chuyến xe đò chở khách dừng lại. Một số tên lính ngụy đi trên xe nhảy xuống đường liền bị anh em bắt sống. Lực lượng địch ở quận Điện Bàn nghe súng nổ liền ra tiếp viện cũng bị ta chặn đánh. Kết quả, sau 15 phút tấn công chớp nhoáng, lực lượng ta tiêu diệt được 41 tên, thu gần 20 khẩu súng các loại, 1 máy bộ đàm, phá hủy 2 cối 81mm, 2 khẩu đại liên, bắt sống 13 tên khác1… Trong trận này, đồng chí Trần Kỳ, đồng chí Tranh cùng 2 chiến sĩ lực lượng vũ trang huyện hy sinh và một số đồng chí khác bị thương.

Bị ta tấn công, gây thiệt hại nặng về người và vũ khí, bọn địch tức tối, trả thù một cách dã man. Chúng đem xác 2 đồng chí Kỳ và Tranh tấp xuống một con mương phía sau đồn, lấp một lớp đất mỏng, tổ chức canh gác cẩn thận. Đồng chí Lê Út cùng 2 đồng chí khác được lệnh bằng mọi cách đột nhập vào khu vực nói trên để đem xác đồng đội về. Đây thực sự là nhiệm vụ khó khăn. Suốt ba đêm liền, tuy trời mưa tầm tã, nhưng các đồng chí vẫn bám lấy mục tiêu, không ngừng quan sát, xem động tĩnh, chờ cơ hội thuận lợi để hành động. Do vậy, phải đợi đến đến đêm thứ ba, địch sơ hở, canh gác lỏng lẻo, các đồng chí lợi dụng cơ hội, nhanh chóng lẻn vào, đến đúng địa điểm, dùng tay bới đất, đưa xác các đồng đội ra ngoài một cách an toàn.

Tuy bị tổn thất, nhưng về cơ bản, trận đánh đồn Ngũ Giáp diễn ra vào giữa ban ngày, ngày 14 tháng 7 năm 1966, đã thắng lợi. Nó đã gây tiếng vang lớn khiến kẻ thù khiếp sợ. Còn quần chúng vô cùng phấn khởi. Khắp từ Vĩnh Điện đến Hội An, Đà Nẵng, đâu đâu bà con cũng bàn tán xôn xao, với vẻ thán phục về tài “xuất quỷ nhập thần” của quân giải phóng khi giữa thanh thiên bạch nhật, có thể tấn công đồn địch, giết chết và làm bị thương hàng chục tên.

Hơn thế nữa, trận đánh đồn Ngũ Giáp cũng góp phần “chia lửa” với nhân dân vùng B Điện Bàn. Nguyên sáng ngày diễn ra trận đánh đồn Ngũ Giáp, trung đoàn 29 ngụy tổ chức trận càn ở đó. Khi bị lực lượng vũ trang cách mạng chống trả và gây thiệt hại nặng, chúng phải điện về cầu cứu bọn lính ngụy đang đóng ở Vĩnh Điện, quận lỵ Điện Bàn. Nhưng cùng lúc, địch lại nhận được tin thất trận ở đồn Ngũ Giáp khiến 1 đại đội lính bảo an và 1 chi đội lính bọc thép lúng túng, phải tiếp cứu đồn Ngũ Giáp, bỏ mặc trung đoàn 29 với lý do mà tên quận trưởng Điện Bàn đưa ra là “Quận lỵ sắp thất thủ”. Như vậy, thông qua trận đánh này, đội an ninh vũ trang và anh em du kích xã Điện Thắng cùng lực lượng vũ trang huyện Điện Bàn đã “chia lửa” có kết quả với nhân dân vùng B tại Điện Bàn, góp phần quan trọng bẻ gãy cuộc hành quân càn quét, “bình định” của kẻ thù.

Giữa tháng 9 năm 1966, Mỹ ngụy mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai. Mục tiêu của chúng chuyển từ “tìm diệt” sang “tìm diệt và bình định”. Chúng tập trung quân triển khai thành nhiều mũi càn quét trên diện rộng ở các huyện Điện Bàn, Đại Lộc… Tại những vùng trọng điểm, địch bắn phá suốt ngày đêm, chà đi xát lại, lùng sục nhằm tìm diệt cán bộ, bộ đội. Song song với những cuộc hành quân, càn quét, địch cũng chú trọng đẩy mạnh hoạt động tâm lý chiến để mua chuộc, dụ dỗ nhân dân. Đặc biệt, địch mở các chiến dịch “Nhân tâm”, “Ngũ Hành Sơn”… dùng vật chất để lung lạc đồng bào ta. Tại Điện Bàn, đầu tháng 8 năm 1966, chúng làm lễ khánh thành trường tiểu học Bến Đá với kinh phí 331.000 đồng. Số tiền này do quỹ của chương trình xây dựng nông thôn của C.I.A tài trợ. Ngày 17 tháng 8 năm 1966, chúng khánh thành cầu Vĩnh Điện dài 123m với tổng kinh phí 8.300.000 đồng và 15.000 USD Mỹ. Đồng thời, chúng tổ chức nhiều hình thức vui chơi, thể dục thể thao như tổ chức giải đua xe đạp, mở hệ thống phát thanh, tổ chức mít tinh để tuyên truyền xuyên tạc, ca ngợi chế độ Sài Gòn, nói xấu miền Bắc.

Trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhằm thực hiện lời dạy “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chủ tịch và hưởng ứng lời kêu gọi của Bộ Tư lệnh Quấn khu V, tháng 10 năm 1966, Tỉnh ủy Quảng Đà đề ra nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân là chủ động, liên tục tấn công tiêu diệt sinh lực địch, đánh bại âm mưu càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng… Trên cơ sở đó, Huyện ủy Điện Bàn phát động đẩy mạnh phong trào 3 mũi giáp công, thi đua đánh Mỹ, diệt ngụy.

Lúc này, Điện Thắng trở thành một trong những trọng điểm đánh phá của địch. Từ đầu tháng 8 đến tháng 12 năm 1966, Mỹ ngụy liên tiếp mở 30 cuộc hành quân, càn quét, lùng sục lớn nhỏ trên phạm vi toàn xã. Bình quân cứ 2 tuần chúng mở 3 cuộc hành quân. Những cuộc hành quân, càn quét, lùng sục, chà đi xát lại đó đã gây cho ta rất nhiều khó khăn trong công tác, sinh hoạt, hoạt động, xây dựng phong trào. Mặc dù vậy, đội an ninh vũ trang và lực lượng du kích xã cũng kiên cường bám đất, bám dân, bám địch mà đánh. Kết quả, ta đã diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 60 tên địch.

Ngoài ra, chỉ tính trong tháng 8 năm 1966, lực lượng du kích và đôi an ninh vũ trang xã Điện Thắng nhiều lần tổ chức bắn tỉa những đoàn xe địch, hay binh lính, tề ngụy, thủy quân lục chiến Mỹ trên đường quốc lộ số 1 ngang qua địa bàn xã. Theo báo cáo của địch, vào lúc 17 giờ ngày 2 tháng 8 năm 1966, khi một chiếc xe jeep chạy từ Đà Nẵng vào đến Thanh Quýt đã bị ta bắn tỉa. Hai ngày sau, vào lúc 16 giờ chiều ngày 4 tháng 8 năm 1966, anh em du kích cũng bắn tỉa một tên tề ngụy khi hắn từ Đà Nẵng chạy vào Vĩnh Điện. Đến ngày 14 tháng 8 năm 1966, lúc 20 giờ tối, ta đã bắn 3 quả súng cối vào tiểu đoàn 1 thuộc trung đoán 51 ngụy. Ngày 21 tháng 8 năm 1966, lúc 16 giờ 30 chiều, anh em du kích cũng bắn tỉa một tên thủy quân lục chiến Mỹ từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện.

Ngày 27 tháng 12 năm 1966, Mỹ ngụy mở cuộc hành quân càn quét lớn ở Điện Bàn. Đây cũng là thời điểm Huyện ủy Điện Bàn đang phát động phong trào thi đua sôi nổi học tập “Võ Duy Hưng”, người anh hùng đã hy sinh, nguyên là bộ đội đặc công C.35 Quảng Đà. Hưởng ứng phong trào, bộ đội du kích khắp nơi hăng hái chống càn, tiêu diệt địch. Tiêu biểu là “Đội thanh niên quyết tử” của huyện, trong đó, có 4 đồng chí người Điện Thắng, dũng cảm vượt qua vòng vây càn quét, luồn sâu vào hậu phương địch, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, bắn cháy 2 xe M113. Cùng thời gian này, thi đua với các đơn vị bạn, du kích Điện Thắng chặn đánh một mũi càn quét của địch, diệt 15 tên, bắn cháy 1 xe M113, bẻ gãy mũi tiến quân của chúng, không cho chúng tiến sâu vào làng.

Năm 1966, trước sự phản công dữ dội, những cuộc hành quân càn quét liên miên của Mỹ ngụy gây cho ta nhiều tổn thất. Ở Điện Thắng, chỉ tính trong tháng 8 năm 1966, đã có 6 cán bộ, đảng viên, du kích đã ngã xuống. Đó là các đồng chí Lê Thị Sâm1, đồng chí Trần Phước Đảng, Xã đội phó, các đồng chí Nguyễn Dân, Nguyễn Hữu Đứa, Nguyễn Văn Biên, Trương Công Vinh. Có đồng chí bị địch phục kích, có đồng chí bị chúng phát hiện ẩn nấp trong hầm bí mật hoặc trong các trận chống càn. Điều đáng nói dù bất cứ trong hoàn cảnh nào, các đồng chí đều tỏ rõ tinh thần đấu tranh kiên cường, hy sinh anh dũng, không đồng chí nào nhụt chí, cam tâm đầu hàng địch. Còn tỉnh cả năm 1966, Điện Thắng đã có tổng cộng 39 đồng chí hy sinh. Trong đó, có 1 đồng chí Bí thư Đảng uỷ, 3 đồng chí Xã đội phó, 3 đồng chí Bí thư chi bộ, 21 đảng viên.

Bước sang năm 1967, năm địch bắt đầu bằng hàng loạt những trận càn lớn nhỏ. Ngay từ tháng giêng năm 1967, chúng đã tập trung 3 tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ, Nam Triều Tiên, nguỵ mở cuộc càn quét, tìm diệt với quy mô lớn vào các xã Điện Thắng, Điện An, Điện Hoà. Chúng còn sử dụng xe bọc thép, phi pháo yểm trợ bọn lính hành quân. Trước lực lượng đông đảo, vũ khí tối tân của địch, lực lượng du kích xã Điện Thắng phải phân tán. Ban ngày, anh em lánh xuống trú ở hầm bí mật. Ban đêm, du kích xã chia thành từng nhóm nhỏ, tập kích, quấy rối, khiến địch mất ngủ, luôn phải canh chừng, đối phó. Trong một trận tập kích đêm 25 tháng 1 năm 1966, đồng chí Nguyễn Khuyên, sau khi giết 3 tên lính Mỹ, đã anh dũng hy sinh. Kết quả, qua trận càn này, dù lực lượng địch rất mạnh, nhưng thông qua ách đánh lih hoạt, sáng tạo, ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 27 tên. Trong đó, có 10 tên lính Mỹ và 2 tên lính Nam Triều Tiên.

Trong bối cảnh Mỹ nguỵ tăng cường đánh phá, gây cho ta nhiều tổn thất, đầu năm 1967, Đảng uỷ xã Điện Thắng họp, đề ra chủ trương đẩy mạnh công tác vận động quần chúng tham gia cách mạng, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, kiên trì bám trụ xóm làng, tiếp tục chiến đấu. Bên cạnh đó, Đảng uỷ cũng quyết định tăng cường công tác đấu tranh chính trị, đấu tranh binh địch vận. Đặc biệt, trong cuộc họp này, Đảng uỷ đề ra đề án binh địch vận rất cụ thể. Bấy giờ, trên địa bàn xã có 180 tên lính nguỵ. Đảng uỷ giao chỉ tiêu vận động binh địch vận cho từng thôn. Theo đó, thôn Thanh Quýt phải tuyên truyền, vận động binh địch vận 10 tên, thôn Bồ Mưng 5 tên, thôn An Thanh 3 tên. Ngoài ra, trong một tháng phải phát thanh địch vận 4 lần. Mỗi gia đình phải có 2 khẩu hiệu địch vận.

Trên cơ sở đề án này, nhiều đảng viên, quần chúng hợp pháp đã ra Đà Nẵng vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, kêu gọi thanh niên về làng tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương. Số tiền ta quyên góp được trong đợt vận động này lên đến 100.000 đồng. Riêng chị Hoàng Thị Mười đã liên lạc được với cơ sở ở Đà Nẵng, giác ngộ được 2 thanh niên yêu nước là Hoà và Khoang trở về Điện Thắng tham gia lực lượng du kích1. Đáng chú ý, tháng 5 năm 1967, tổ địch vận đã kêu gọi trung đội địa phương quân đem theo nhiều vũ khí về với nhân dân. Ngoài ra, nhiều lần, chị em binh vận được một vài binh lính địch bỏ hàng ngũ địch. Tính chung, trong năm 1967, từ đề án binh vận, các tầng lớp quần chúng nhân dân xã Điện Thắng đã có nhiều hình thức binh vận khôn khéo, sáng tạo và binh vận thành công 50 lính nguỵ thuộc nhiều binh chủng khác nhau. Có thể nói, đây là thành tích đáng kể của công tác binh địch vận, góp phần tích cực vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Điện Thắng.

Tháng 6 năm 1967, Quân khu V quyết định thành lập Mặt trận 4 với nhiệm vụ thống nhất chỉ huy các lực lượng vũ trang trên hường tiến công chiến lược Đà Nẵng. Sự thành lập Mặt trận 4 đánh dấu bước chuẩn bị có ý nghĩa chiến lược đối với chiến cuộc Đông – Xuân 1967 – 1968. Khu ủy V quyết định sáp nhập tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng thành Đặc Khu ủy Quảng Đà. Đối với các địa phương trên toàn bộ Đặc Khu uỷ, các Đảng bộ lãnh đạo nhân dân tổ chức học tập, phát động căm thù, tập dượt cho quần chúng nhận thức rõ tình hình, nhiệm vụ mới. Khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” trở thành mục tiêu duy nhất động viên toàn bộ sức người, sức của cho việc chuẩn bị kế hoạch. Ở các xã đều thành lập Ban chi viện tiền phương. Ba này có nhiệm vụ huy đông dân công, lương thực, tiền bạc để ủng hộ tiền tuyến.

Trong khí thế chung của toàn miền, Đảng bộ và nhân dân Điện Thắng cũng hăng hái bắt tay vào công tác chuẩn bị. Trung đội du kích tập trung và các tiểu đội du kích thôn ngày đêm tập luyện. Tháng 9 năm 1967, hưởng ứng lời kêu gọi của Đặc Khu uỷ, đã có 15 anh em du kích xung phong lên đường gia nhập lực lượng vũ trang chính quy, góp phần tăng thêm sức mạnh cho bộ đội chủ lực. Lúc này, quần chúng nhân dân lo chuẩn bị, củng cố, sửa chữa các hầm bí mật ũ, đào hầm bí mật mới để khi cần có thể dùng làm nơi trú ẩn cho nhiều người.

Ngày 28 tháng 11 năm 1967, để tập dượt và cũng để trừng trị trung đội Mỹ phá phách xóm làng, hãm hiếp phụ nữ, tiểu đội du kích do đồng chí Ngô Kỳ, chính trị viên Xã đội chỉ huy đã đánh tập kích chúng. Trận tập kích diễn ra quyết liệt. Kết quả, lực lượng du kích xã Điện Thắng tiêu diệt hầu hết lực lượng địch, thu một số vũ khí. Cũng trong trận này, đồng chí Ngô Kỳ hy sinh. Chiến thắng của tiểu đội du kích Điện Thắng cuối năm 1967 đã khích lệ tinh thần chống Mỹ của quần chúng, khiển kẻ thù tức tối.

Có thể nói, liên tiếp trong hai năm 1966 và 1967, trên chiến trướng, quân và dân miền Nam đã đánh bại một bước rất cơ bản của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Thế và lực ta có những tiến bộ. Tháng 12 năm 1967, trên cơ sở phân tích tình hình địch ta, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở cuộc Tổng tấn công và nổi dậy trên toàn miền Nam nhằm giáng một đòn sấm sét vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi mới. Quyết định của Bộ Chính trị tạo tiền đề để nhân dân Đặc Khu ủy Quảng Đà nói riêng và nhân dân miền Nam chuẩn bị, đóng góp nuôi quân, vận động nhân dân cho mượn vàng, thóc, tiền, đi dân công hai chiều nhằm đưa gạo lên căn cứ, tải đạn về chuẩn bị cuộc Tổng tấn công và nổi dậy.

Chấp hành Nghị quyết của Trung ương Đảng, Đặc Khu ủy Quảng Đà, Huyện ủy Điện Bàn, Đảng bộ xã Điện Thắng khẩn trương tiến hành công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy. Các đoàn thể quần chúng như Hội Phụ lão, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ… ngày đêm tích cực quyên góp tiền bạc, lương thực, chuẩn bị thuốc men. Lực lượng du kích tổ chức các trạm giao liên bí mật, chuẩn bị đón bộ đội về đánh Đà Nẵng. Ở tất cả các thôn, Đảng bộ luôn bám sát, kịp thời chỉ đạo các mặt công tác. Có khi, ngay trong đêm, ta huy động hợn 100 dân công tình nguyện đi vận chuyển vũ khí, đạn dược cho bộ đội. Đặc biệt, khi có anh em bộ đội hành quân qua Điện Thắng, nhân dân đón tiếp hết sức niềm nở, chu đáo, như người ruột thịt của mình.

Đúng ngày 30 tháng 1 năm 1968, mật lệnh được Huyện ủy truyền đạt về Đảng bộ xã Điện Thắng, chỉ thị cho toàn dân nổi dậy1. Ngay đêm hôm đó, các đội du kích xã phối hợp với bộ đội chia quân làm 3 mũi. Một mũi dẫn đường cho bộ đội qua ngã Đò Xu, đánh thẳng vào Hòa Vang. Mũi thứ hai đánh ập vào đồn Trảng. Mũi thứ ba đánh vào đồn Ngũ Giáp. Trong 2 mũi tấn công đầu, lực lượng du kích xã đảm nhiệm nhiệm vụ dẫn đường là chủ yếu. Mũi thứ ba, đánh đồn Ngũ Giáp, Ban an ninh xã và lực lượng du kích đảm nhận vai trò chủ công. Cũng theo kế hoạch, các cuộc tấn công này được nhân dân xuống đường hỗ trợ. Trong tiếng trống, mõ, thanh la rung trời chuyển đất, bộ đội và du kích ào ạt tấn công địch. Khiếp sợ trước tinh thần của nhân dân và lực lượng vũ trang ta, phần lớn binh lính địch bỏ chạy. Số còn lại bị ta tiêu diệt hoặc bắt sống. Ta làm chủ được tình hình.

Sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, địch bắt đầu lấy lại bình tĩnh, tổ chức phản công. Bấy giờ, do sự phối hợp không chính xác nên khi quần chúng xuống đường đều bị địch chặn lại, khộng vào được Đà Nẵng. Trước tình hình ấy, cấp trên ra lệnh rút lực lượng quần chúng về. Còn tại Đà Nẵng, chỉ có trung đội 1 của đại đội 1, tiểu đoàn 1 và 1 trung đội của khu III Hòa Vang lọt được vào thành phố, cắt rào đánh thẳng vào Bộ Chỉ huy quân đoàn I ngụy, chiếm giữ một số vị trí quan trọng. Trận đánh diễn ra rất ác liệt. Lực lương ta tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, bắn cháy, bắn hỏng nhiều xe tăng, xe bọc thép. Tuy nhiên, do quân số địch đông gấp bội, hỏa lực địch lại quá mạnh nên đến trưa ngày 31 tháng 1 năm 1968, lực lượng ta hết đạn. Hầu hết đều anh dũng hy sinh.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 ở Đặc Khu ủy Quảng Đà có ý nghĩa lịch sử to lớn, không những ta đã tiêu diệt một phần sinh lực địch, góp phần cùng quân và dân toàn miền Nam giáng một đòn nặng vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán với ta ở hội nghị Paris về Việt Nam. Ngày 24 tháng 4 năm 1968, Bộ Chính trị họp về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, yêu cầu tiếp tục tấn công địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mỹ, tạo điều kiện cho quần chúng làm chủ, củng cố chính quyền cách mạng ở nông thôn miền Nam.

Về phía địch, sau khi bộ đội chủ lực ta rút khỏi thành phố, thị trấn, thị xã, địch tăng cường phi pháo, phản kích, tăng thêm quân Mỹ và chư hầu để truy kích, vây quét ở những vùng giáp ranh, vùng giải phóng. Tại Điện Thắng, tình hình rất căng thẳng, ác liệt. Địch cũng ráo riết tăng thêm quân, đóng đòn bốt trong xã. Nếu năm 1966, chúng có 13 đồn bốt và chốt điểm quân sự thì giữa năm 1968 lên đến 21 đồn bốt và chốt điểm. Trong đó, quan trọng nhất là những chốt điểm ở Trảng Nhật do 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đóng giữ. Ở Gò Phật có 1 tiểu đoàn Nam Triều Tiên thuộc Lữ đoàn Rồng Xanh chốt giữ. Ngoài ra, quân ngụy thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 51 đóng giữ 15 chốt điểm khác. Đó là chưa kể 14 đoàn công tác “bình định” lớn nhỏ thay phiên nhau đến công tác ở Điện Thắng cũng 3 trung đội thám báo Mỹ luôn tiến hành phục kích, càn quét.

Có thể nói, đây là thời điểm Điện Thắng dày đặc linh. Tính trung bình cứ 8 người dân có mộ tên lính theo dõi, kiểm soát. Cùng với việc tăng cường binh lính, địch còn xúc tiến củng cố bộ máy ngụy quyền xã, thôn. Chúng đưa những tên tay sai từ nơi khác về như tên cuộc trưởng cảnh sát Hồ Văn Tùng, phó cuộc trưởng Đỗ Chí Bảnh. Đồng thời, chúng cũng dùng những tên ác ôn khét tiếng như Hà Sinh, Nguyễn Hữu Tráng, Hà Lượng… Bằng những biện pháp đó, chúng ra sức kèm kẹp, điên cuồng chống phá cách mạng. Hệ thống điệp báo, mật vụ được chúng tung ra dày đặc, ngày đêm lùng sục, truy tìm cán bộ, đảng viên, phát hiện những dấu hiệu nghi vấn để báo cho chúng biết, tìm cách đối phó. Về chiến tranh tâm lý, chúng ra sức tung tin “Việt cộng bị đánh gãy xương sống, ngày tận số sắp đến…” hòng gieo hoang mang, sợ hãi trong quần chúng nhân dân.

Trước những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của địch, ngày 25 tháng 1 năm 1968, đồng chí Ngô Duy Ba1, Bí thư Đảng ủy, đã chủ trì một cuộc hội nghị của Đảng bộ Điện Thắng. Hội nghị xác định trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù khó khăn đến đâu, toàn thể đảng viên và quần chúng phải quyết tâm giữ vững tinh thần tấn công địch. Lực lượng cách mạng tuy bị tổn thất do nhiều cơ sở bí mật bị lộ nhưng Đảng bộ cần phải khắc phục khó khăn, xây dựng phong trào, tạo thế đưa phong trào phát triển. Đặc biệt, Đảng bộ xác định phái đẩy mạnh hơn nữa công tác đấu tranh chính trị giữa lúc lực lượng quân sự của địch còn khá mạnh. Sau hội nghị, Đảng bộ chưa kịp triển khai rộng rãi chủ trương của Đảng thì địch lại mở một cuộc càn quét lớn. Trong trận càn kéo dài 2 tuần lễ này nhiều đồng chí đã hy sinh. Trong số đó, có đồng chí Ngô Duy Ba vừa thay đồng chí Ngô Diệt lên làm Bí thư Đảng ủy mới 32 ngày.

Trong thời gian này, du kích xã Điện Thắng có những cách đánh địch rất sáng tạo. Tháng 1 năm 1968,lợi dụng địch đang xây bệnh xá gần đường cái, gỗ để ngổn ngang. Các đồng chí du kích xã gồm Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Hữu Dũ, Nguyễn Hữu Luân, Nguyễn Hữu Lào bàn nhau đào lỗ đặt mìn ngay trên đường cái, kéo gỗ đè lên trên để ngụy trang. Y như ta dự kiến, sáng hôm sau, một tốp lính Mỹ lẫn ngụy đi làm khiêng gỗ để dẹp đường. Mìn nổ khiến 7 tên chết ngay tại chỗ. Trong đó, có 1 tên Mỹ. Ngoài ra, lực lượng du kích xã còn tổ chức hàng chục trận đánh mìn phá cầu, phá đường giao thông khiến địch ăn luôn lo lắng, tìm cách đối phó.

Tháng 4 năm 1968, tổ du kích do đồng chí Nguyễn Phước Tới, Nguyễn Lô dẫn đường cho một đơn vị bộ đội tập kích 1 đại đội Mỹ đóng ở Viêm Tây. Ta diệt một số tên. Qua đó, góp phần củng cố lòng tin của quần chúng vào cách mạng. Tháng 6 năm 1968, nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công của ta vào Đà Nẵng, Mỹ ngụy tổ chức một cuộc hành quân càn quét lớn, kết hợp với cày ủi, dọn trắng hàng lang từ Điện Hòa qua Điện Thắng đến Điện Ngọc… Địch huy động một lực lượng gốm 1 đại đội công binh với sự yểm trợ của nhiều tiểu đoàn Mỹ, Nam Triều Tiên, ngụy quân để vừa càn quét vừa xúc tát dân, cày ủi đồng ruộng, mồ mả của nhân dân nhằm lập vành đai điện tử Mắc-na-ma-ra.

Để chống lại âm mưu lập hàng rào điện tử của địch, lực lượng du kích phối hợp với bộ đội tiến hành tập kích, bắn tỉa địch, gây cản trở công việc của chúng. Mặt khác, ta ra sức tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh chính trị không cho địch cày, ủi, lập vành đai. Qua đó, nhân dân hưởng ứng sôi nổi. Nhiều cuộc đấu tranh chính trị đã nổ ra. Trong đó, nổi bật là cuộc đấu tranh chính trị do đồng chí Bí thư chi bộ Thanh Quýt, một trong những đảng viên trung kiên nhất, lãnh đạo. Lúc đó, địch chuẩn bị cày ủi Gò Võ. Chị Tảo cùng một số chị em nòng cốt lãnh đạo bà con đấu tranh trực diện với kẻ thù. Nhiều mẹ, chị đã dũng cảm nằm lăn xuống đường nhằm cản xe M.113, máy ủi đất của Mỹ, không cho chúng cày ủi ruộng vườn, mồ mả cha ông.

Đặc biệt, trong cuộc đấu tranh này, ta đã biết kết hợp một cách khéo léo với công tác địch vận, tức vận động binh lính địch ủng hộ yêu cầu chính đáng của nhân dân. Hơn thế nữa, chị em cũng chuẩn bị nhiều truyền đơn bằng tiếng Anh để đưa tận tay cho từng tên lính Mỹ. Truyền đơn tiếng Anh có nội dung “Đàn áp, khủng bố dã man, cướp bóc nhà và làm nhục phụ nữ… tất cả những hành động đó đều không phù hợp với tư tưởng của những người Mỹ dân chủ”1; “Trong các cuộc càn quét dã man mỗi ngày, các bạn đang ép buộc phạm những tội ác tàn bạo, có lẽ nào những việc làm đó phù hợp với danh dự nước Mỹ và danh dự các bạn?”2. Những tờ truyền đơn binh vận lính Mỹ phần nào tác động đến tinh thần của chúng.

Đồng thời, biết được trong bộ máy chính quyền Sài Gòn có nhiều tên ngụy quyền cao cấp có mồ mả thân thuộc, mồ mả tổ tiên ở đây nên ta cử người chủ động vào tận Sài Gòn tìm gặp Trương Công Cừu, cựu bộ trưởng, nguyên dân biểu quốc hội ngụy, nhờ y khiếu nại không cho địch cày phá khu đất này. Bên cạnh đó, ta cũng tranh thủ cả những tên tay sai, ác ôn ở địa phương như Trương Công Sằng, Nguyễn Văn Chanh, Nguyễn Hữu Thép, Đỗ Hữu Bồ… cũng có mồ mả ở Gò Võ để bọn chúng cùng đấu tranh với quần chúng nhân dân.

Cuộc đấu tranh kéo dài gần 2 tháng với hàng ngàn người tham gia. Cuối cùng, địch đành phải nhượng bộ. Chúng dời hàng rào đi chỗ khác và thu hẹp bề ngang hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra. Theo quy định, bề rộng của hàng rào nhiều lớp này ít nhất 100m, chỗ rộng nhất 300m. Thế nhừng, đoàn hàng rào điện tử đi qua địa bàn xã chỉ chưa đẩy 50m. Có thể nói, trong cuộc đấu tranh này, bên cạnh lực lượng chính là quần chúng nhân dân, ta đã tranh thủ sự ủng hộ của nhiều đối tượng, từ viên chức cap cấp của ngụy quyền đến bọn ngụy tề, ác ôn. Ta cũng vừa đấu tranh chính trị vừa đấu tranh binh địch vận, dùng truyền đơn để kêu gọi sự đồng tình của binh lính Mỹ. Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã để lại nhiều bài học quý báu về việc phân hóa, chia rẽ nội bộ kẻ thù.

Tháng 7 năm 1968, đồng chí Nguyễn Hữu Lào, du kích xã Điện Thắng, đã lập thành tích xuất sắc. Bấy giờ, ở bót gác cầu Thanh Quýt, địch đặt mìn định hướng quay ra ngoài để bảo vệ bót gác. Một đêm, lợ dụng lúc tối trời, đồng chí Nguyễn Hữu Lào, bằng sự thông minh, bình tĩnh và gan dạ, đã bí mật bò vào sân đồn chuyển hướng quay vào đồn. Sau khi bò ra, đồng chí dùng lựu đạn ném vào lô cốt. Bọn lính gác hốt hoảng bấm mìn. Những tiếng nổ lớn như xé toang màn đêm. Cả 5 tên lính đều bị mìn giết chết ngay lập tức.

Tháng 8 năm 1968, hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra của địch về cơ bản đã thiết lập xong. Thực chất, hàng rào điện tử này là hệ thống kẽm gai nhiều tầng, nhiều lớp xen kẽ với bãi mìn dày đặc. Trong các lớp kẽm gai, địch bố trí hệ thống máy tự động thu tiếng động và phát tín hiệu định hướng cho địch phản pháo khi ta tập kích vượt phòng tuyến. Tuy bước đầu hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra có gây cho lực lượng ta một số khó khăn nhưng anh em du kích ngày đêm bám hàng rào, tìm cách gỡ mìn đem về sử dụng. Đặc biệt, lực lượng du kích còn mở hàng lang cho giao liên vận chuyển vũ khí, đưa anh em bộ đội đi qua. Hàng rào dần dần mất tác dụng. Đến năm 1970, hàng rào hoàn toàn bị vô hiệu hóa.

Thời gian này, ở Điện Thắng, có một trung đội Mỹ đóng ở đồn Ông Mô thường xuyên cướp bóc nhân dân. Ban đêm, chúng cho lính tổ chức phục kích đường giao thông, gây rất nhiều khó khăn cho việc đi lại của cán bộ, đảng viên. Trước tình hình ấy, Ban Chỉ huy Xã đội Điện Thắng quyết định đánh trung đội này. Đảm nhận nhiệm vụ là tiểu đội du kích có các đồng chí Nguyễn Kỉnh, Nguyễn Hữu Sót, Trần Phước Tới và một số đồng chí khác. Để trận đánh đạt kết quả tốt, tiểu đội đã họp bàn, đề ra phương án, thống nhất cách đánh. Đêm 16 tháng 10 năm 1968, được sự hỗ trợ của V25, lực lượng ta áp sát đồn địch. Anh em phát hiện từ chiều tối, chúng đã tăng cường thêm 2 trung đội bổ sung đồn Ông Mô. Trước tình huống ngoài dự kiến này, các đồng chí chỉ huy hội ý và quyết định tiếp tục đánh.

Bị ta tấn công bất ngờ, ban đầu địch hốt hoảng, vôi kêu phi pháo bắn yểm trợ. Sau đó, chúng tổ chức phản kích dữ dội. Trận dánh diễn ra giằng co, ác liệt. Sau khi tiêu diệt và làm bị thương 2 tiểu đội Mỹ, lực lượng ta rút lui. Nhưng, ra khỏi đồn, anh em mới phát hiện 3 đồng chí Nguyễn Kỉnh, Nguyễn Trung và Nguyễn Hữu Sót đã hy sinh. Không thể bỏ xác đồng đội, tạo điều kiện cho địch tuyên truyền, các đồng chí kiên quyết quay lại, dũng cảm vượt qua hàng rào, vào lấy xác những đồng chí đã hy sinh đem ra ngoài.

Đến cuối năm 1968, chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ đứng trước nguy cơ thất bại thảm hại. Nhằm cứu vãn tình thế, Mỹ ngụy mở hàng trăm cuộc hành quân càn quét trên khắp các chiên trường. Tại các xã thuộc huyện Điện Bàn như Điện Thắng, Điện Hòa, Điện An, Điện Tiến và Điện Phước, từ ngày 29 tháng 11 đến ngày 11 tháng 12 năm 1968, được phi pháo yểm trợ, chúng cũng tổ chức một trận càn lớn với 3 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn chủ lực ngụy, 2 tiểu đoàn địa phương quân và 1 tiểu đoàn Nam Triều Tiên. Tổng cộng lực lượng địch lên gần 7.000 tên lính với hơn 100 máy bay các loại, 60 xe bọc thép. Trong đó, ở địa bàn Điện Thắng, chúng tập trung lực lượng hùng hậu gồm 1.500 tên lính và 16 xe bọc thép.

Mờ sáng ngày 20 tháng 11 năm 1968, địch bắt đầu hành quân càn quét. Chúng chia ra thành hai cánh quân. Cánh quân thứ nhất từ Vĩnh Điện kéo ra. Một cánh quân khác đổ quân từ trực thăng xuống dọc đường xe lửa rồi tỏa ra đường 100. Như vậy, với phương tiện chiến tranh hiện đại, chỉ sau 30 phút, địch đã khép chặt vòng vây Điện Thắng, Điện Hòa và Điện An. Lúc này, tại Điện Thắng,lực lượng ta gồm cán bộ, đảng viên và anh em du kích bị kẹt lại khá nhiều. Trong đó, có 7 đồng chí cán bộ Thành ủy và Thành đội Đà Nẵng, 4 đồng chí cán bộ huyện, đơn vị R.20 và gần như toàn bộ đảng viên, du kích trong xã. Địch rải quân vòng tròn, cách 3 đến 4 mét có 1 tên lính. Sau khi bao vây, chúng ném bom và bắn đại bác suốt một ngày liền. Nhiều ngôi nhà bị cháy, bị phá hủy. Nhiều cán bộ, đảng viên và đồng bào hy sinh trong ngày hôm ấy.

Bấy giờ, tình thế vô cùng nguy hiểm. Ta quyết định tổ chức cho một bộ phận nghiên cứu phương án thoát ra ngoài vòng vây dày đặc của địch. Nhưng, địch kiểm soát chặt, không có cách nào lọt qua nổi. Bên cạnh đó, chúng tiến rất chậm. Mỗi ngày, chúng chỉ vào sâu khoảng 40 đến 50 mét. Vừa đi, chúng vừa xăm hầm rất kỹ. Chúng xăm đi xăm lại. Nhiều hầm bí mật bị lộ. Có hầm, chúng phát hiện đến 5 đồng chí. Trong đó, có 2 cán bộ thành phố Đà Nẵng và 1 cán bộ huyện Điện Bàn. Địch kêu gọi đầu hàng. Các đồng chi trả lời bằng cách ném lựu đạn gây thương vong cho chúng. Cuối cùng, biết không thể khuất phục nổi ya chí chiến đấu của ta, chúng điên cuồng ném lựu đạn, thủ cối tới tấp xuống hầm. Các đồng chí đều anh dũng hy sinh.

Thấy không thể xoay chuyển được tình thế, anh em cán bộ, du kích ban ngày vừa chống địch, vừa lẫn tránh. Tuy nhiên, anh em cũng chỉ bắn trả trong những ngày đầu. Khi màn đêm buông xuống, lợi dụng địa hình, bóng tối, các đồng chí móc nối liên lạc, tổ chức tập kích địch. Sau đó, khi hết cả đạn, tất cả phải rút xuống hầm bí mật ẩn nấp. Đặc biệt, có những đồng chí như đồng chí Tới, Lô, Lê Út… phải dầm mình dưới sông trong cái lạnh buốt cuối năm suốt 4 đén 5 ngày liền, chân tay, thân hình đều thâm tím, nhợt nhạt. Ban đêm, các đồng chí cũng phải đề phong vì có 6 chiếc máy bay địch thay nhau quần suốt đêm, chiếu đèn pha, bắn pháo sáng như ban ngày để dễ dàng truy tìm, bắn giết cán bộ, đảng viên và anh em du kích.

Nhưng, lực lượng ta không chịu bó tay chờ chết. Không những bộ đội, du kích đánh địch mà cả cán bộ rồi đến các đồng chí làm nhiệm vụ y tá, chị em phụ nữ… cũng đều xung trận. Anh em du kích Điện Thắng nhiều lần phối hợp với một trung đội của đơn vị R.20 đánh địch suốt ngày. Kết quả, sau trận càn kéo dài hơn 20 ngày, từ ngày 20 tháng 11 đến ngày 11 tháng 12 năm 1968, tuy lực lượng ta quá yếu, lực lượng địch quá mạnh, nhưng bằng ý chí kiên cường, ta cũng gây cho địch một số tổn thất. Ta đã bắn cháy 1 xe M.113, 1 máy bay lên thẳng, loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên địch. Về ta, đã có 40 cán bộ, đảng viên, du kích hy sinh, 10 hầm bí mật bị địch phát hiện, 100 đồng bào bị thương.

Trận chống càn cuối năm 1968 rõ ràng là thử thách hết sức khốc liệt với phong trào cách mạng ở Điện Thắng. Qua đó, lực lượng ta dù bị nhiều tổn thất nhưng được tôi luyện trong thực tiễn chiến đấu, trưởng thành hơn. Đặc biệt, Đảng bộ và nhân dân Điện Thắng đã góp phần bẻ gãy âm mưu, thủ đoạn của địch khi tổ chức trận càn có quy mô lớn nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, bảo vệ được các cơ quan lãnh đạo của Đặc Khu ủy Quảng Đà, Huyện ủy Điện Bàn và Quận ủy quận nhất, Đà Nẵng.

III- GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH”, ĐƯA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC ĐẾN THẮNG LỢI HOÀN TOÀN (1969 – 1975):

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, tức dùng người Việt đánh người Việt và rút dần quân Mỹ về nước. Thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” chúng tăng cường bắt lính, sung quân, ào ạt mở các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn vào vùng giải phóng nhằm “bình định” lấn chiếm đất đai, tiêu diệt cơ sở cách mạng. Trong dó, chúng xem “bình định” là quốc sách hàng đầu, là biện pháp then chốt quyết định thành bại của chiến lược“Việt Nam hóa chiến tranh”. Địa bàn Quảng Nam và Quảng Đà là những địa bàn được chúng xem như là trọng điểm đánh phá.

Sau trận càn khốc liệt của địch cuối năm 1968, ở xã Điện Thắng, cách mạng bị tổn thất khá nặng nề. Lợi dụng thời cơ, địch ráo riết xây dựng và bố trí lực lượng để khống chế, kiểm soát chặt chẽ quần chúng nhân dân. Chúng vẫn tin tưởng vào hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra, tin tưởng vào sự thành công của những trận càn quét liên miên, quyết liệt nhằm truy tìm cán bộ, đảng viên. Thắng 5 năm 1969, địch tiến hành cày ủi đất đai ở thôn Viêm Tây và thôn Bồ Mưng nhằm thi công con đường nối liền với Điện Ngọc, hình thành hàng lang chia cắt Điện Bàn với vùng ven thành phố Đà Nẵng, cắt đứt đường dây liên lạc giữa vùng nông thôn với thành phố, giữa vùng rừng núi với đồng bằng ven biển của ta.

Đồng thời, chúng tăng cường tổ chức lại bộ máy cảnh sát, tề ngụy. Ngoài những đồn bót, chốt điểm trước đây địch đóng quân thêm một số địa điểm khác như nhà Hoàng, nhà Lút, Gò Nhu… đưa tổng số cứ điểm địch trên địa bàn xã Điện Thắng lên đến 23 đồn bót, chốt điểm các loại. Ngoài ra, chúng còn liên tiếp đưa các đoàn “cán bộ bình định”, tâm lý chiến “ủy ban Phụng Hoàng” về xã để tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu cách mạng, đề cao chế độ Nguyễn Văn Thiệu, mua chuộc, đe dọa nhân dân. Chúng cũng thành lập cái gọi là Ủy ban Phụng Hoàng xã Thanh Trường do tên Hà Minh làm chủ tịch1. Dưới sự hỗ trợ đắc lực của những tổ chức phản động này, địch từng bước củng cố hệ thống liên gia trưởng đông đến 300 tên.

Về ta, cũng ngay đầu năm 1969, nhằm ổn định tổ chức, cũng cố và phát triển phong trào, Đảng bộ xã Điện Thắng đã triệu tập cuộc họp cấp ủy mở rộng ở thôn Phong Lục. Trong cuộc họp này, đồng chí Bí thư Nguyễn Văn Đảm phổ biến những chủ trương mới của Huyện ủy Điện Bàn, bàn nhiệm vụ công tác thời gian đến. Cuộc họp thống nhất rằng, trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào, toàn thể 50 đồng chí đảng viên trong toàn Đảng bộ vẫn kiên quyết bám trụ, giữ vững phong trào cách mạng tại địa phương. Phương châm tác chiến bấy giờ là tiếp tục tấn công địch trên cả ba mặt trận là chính trị, quân sự và binh địch vận. Trong đó, đấu tranh quân sự luôn luôn đóng vai trò, vị trì then chốt nhất, có tầm quan trọng đến cục diện chung nhất.

Để khích lệ tinh thần quần chúng, ngay sau cuộc họp cấp ủy, Đảng bộ xã Điện Thắng quyết định đánh một trận mở màn năm 1969. Đó là kế hoạch tấn công đồn Trảng của quân Mỹ. Đây là một đồn bót đảm nhận ở vị trí hiểm yếu trên vành đai phòng thủ của địch. Lực lượng địch đóng ở đồn Trảng gồm một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ. Bọn này từ khi đến đồn trú chưa một lần bị ta đánh nên chúng tỏ ra rất rất hung hăng. Hàng ngày, khi màn đêm xuống, chúng thường kéo quân ra ngoài, phục kích suốt đêm ở những địa điểm chúng nghi ngờ là tuyến giao liên của lực lượng cách mạng. Ngoài ra, nhiều tên lính Mỹ còn tổ chức cướp bóc, hãm hiếp phụ nữ, gây phẫn nộ trong nhân dân. Dã man hơn, chúng đốt cháy hàng trăm ngôi nhà của dân, cày ủi nhiều mồ mả, ruộng vườn. Ban đêm, chúng lại cấm mọi người không được ra khỏi nhà. Ai trái lệnh, sẽ bị chúng bắn ngay lập tức, hoặc gọi phi pháo ném bom.

Để đánh bọn Mỹ ở đồn Trảng, Đảng bộ quyết định Ban an ninh và lực lượng du kích xã là những đơn vị trực tiếp nghiên cứu, đề xuất kế hoạch tiêu diệt đồn. Sau cuộc họp, anh em nhất trí đánh Mỹ bằng mìn. Công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Tuy nhiên, đây là vấn đề tương đối khó vì bọn Mỹ thưởng thay đổi địa điểm đóng quân để đề phòng lực lượng ta phục kích. Cho nên, tổ du kích hợp pháp phải đóng giả những người đi làm ruộng, đi bắt cá để tìm hiểu quy luật hoạt động của chúng. Qua nhiều lần theo dõi, anh em phát hiện sau khi đi vây ráp một vòng, địch thường về gò đất cao, cách đồn khoảng 50 mét, để nghỉ ngơi, quan sát. Đây là địa điểm ta có thể tổ chức đặt mìn để tiêu diệt địch.

Nhằm tránh sự nghi ngờ của địch, việc đặt mìn được giao cho tổ du kích thiêu niên. Ngày hôm ấy, em Quyết, 12 tuổi, giả vờ đi lượm vỏ đồ hộp Mỹ, đã đem đặt 3 quả mìn ở 3 góc gò đất, trên lối đi về và hai bên sườn đồi. Mìn được bố trí theo hệ thống dây chuyền, có ngòi nổ tự động. Khoảng 9 giờ sáng ngày 16 tháng 3 năm 1968, bọn lính Mỹ, sau khi đi phục kích ban đêm, đã kéo về gò đất để nghỉ ngơi. Chỉ 5 phút sau, có 3 tiếng mìn nổ liên tiếp, khói bụi tung lên mù mịt. Tốp lính Mỹ bị diệt gọn, chỉ còn vài tên bị thương nặng. Toàn bộ vũ khí, trong đó có cả máy bộ đàm, bị phá hủy. Mười phút sau, bọn địch ở đồn Trảng mới dám kéo quân tiếp viện. Chúng phải gọi trực thăng đến chở xác lính Mỹ đi.

Trận đánh địch bằng mìn của em Quyết1 gây tiếng vang lớn. Sau trận này, lính Mỹ khiếp sợ, không còn dám kéo quân đi lùng sục, hung hăng như trước. Thế kèm kẹp của địch được nới lỏng. Quần chúng vô cùng phấn khởi. Sau trận đánh của em Quyết, Đảng bộ đã phát động phong trào thi đua đánh giặc Mỹ sôi nổi trong toàn xã. Cuối tháng 3 năm 1969, một tiểu đội du kích do đồng chí Phan Định làm Xã đội trưởng và đồng chí Đỗ Phúc, Xã đội phó, chỉ huy đánh tập kích một trung đội Mỹ thường kéo từ Điện An sang càn quét Điện Thắng. Kết quả, ta đã tiêu diệt được 11 tên Mỹ, bắn bị thương nhiều tên khac, thu 6 súng các loại và 1 máy thu phát RC.25.

Tháng 4 năm 1969, nắm được quy luật hoạt động của bọn thám báo Mỹ, cứ tối đi lùng sục, sáng về nghỉ tại nhà ông Bình, lực lượng du kích thôn Viêm Tây, xã Điện Thắng quyết tiêu diệt chúng. Các đồng chí Tới, Út có sáng kiến đào từ ngoài đường vào hiên nhà đặt mìn, kéo dây dài 150 mét. Đúng 9 giờ sáng, như thường lệ, bọn Mỹ kéo về nhà ông Bình, như không có chuyện gì xảy ra. Chờ cho chúng vào tầm ngắm, lực lượng ta phục sẵn giật mìn khiến 7 tên lính Mỹ chết tại chỗ, 5 tên khác bị thương nặng. Đến đầu tháng 5 năm 1969, lực lượng du kích thôn Viêm Tây tiếp tục tổ chức phục kích một tiểu đội Mỹ, giết 5 tên, thu 5 khẩu súng AR.15 cùng nhiều đạn dược.

Những trận đánh liên tiếp của lực lượng du kích xã Điện Thắng khiến địch hoáng mang, lo sợ. Chúng đối phó bằng cách tăng cường càn quét, xăm hầm bí mật, truy tìm cán bộ, đảng viên, bắt bớ những người tình nghi để tra tấn, khai thác tin tức. Nguy hiểm hơn, những tên ác ôn khét tiếng càng hung hăng hơn. Bấy giờ, Hà Sinh đã lên làm xã trưởng. Y là tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân. Chính y đã chỉ hầm cho Mỹ phục kích và giết hại các đồng chí Hà Thị Sáu vào ngày 1 tháng 1 năm 1969, đồng chí Đỗ Hạnh vào ngày 17 tháng 3 năm 1969 và đồng chí Nguyễn Oanh vào ngày 10 tháng 4 năm 1969. Ngoài ra, y còn thường xuyên tống tiền những người bị bắt, dùng chiến tranh tâm lý, kinh tế để chia rẽ, mua chuộc cán bộ và cơ sở cách mạng. Do đó, Đảng bộ xã Điện Thắng hạ quyết tâm tiêu diệt tên Hà Sinh, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh chính trị.

Kế hoạch tiêu diệt Hà Sinh được giao cho đồng chí Lê Út, Trưởng ban an ninh xã, tổ chức và thực hiện. Các đồng chí nằm trong tổ hợp pháp có nhiệm vụ điều tra quy luật đi lại, sinh hoạt thường ngày của Hà Sinh. Qua đó, ta được biết sau giờ ăn trưa ở đồn, y thường ra ngoài và đi về trụ sở Hội đồng ngụy. Đây là thời điểm ta có thể ra tay tiêu diệt. Trưa ngày 15 tháng 5 năm 1969, 4 đồng chí du kích cải trang thành lính ngụy. Trên tay mỗi người là 1 khẩu sung AR.15 đi ra đường quốc lộ số 1. Anh em tiến đến chỗ bọn lính, chào hỏi mấy câu làm quen. Chúng không để ý. Vừa lúc đó, nữ đồng chí Dũng quạt nón làm ám hiệu báo tên Hà Sinh đã ra khỏi đồn. Lực lượng du kích cải trang ngay lập tức bám theo y. Khi đi cách tốp lính khoảng 100 mét, anh em gặp tên Sinh. Phía trước có một chiếc xe chở đầy lính đang chạy đến. Không chậm trễ, đồng chí Lê Út giương súng bắn vào đầu tên Hà Sinh. Các đồng chí khác bồi thêm mấy loạt đạn. Y chết ngay tại chỗ. Chiếc xe Mỹ chạy vụt qua. Anh em hô “Vi-xi, vi-xi”. Tụi Mỹ không dừng lại. Tốp lính ngụy đứng đằng xa tưởng là tụi Mỹ bắn nên không chú ý. Đồng chí Lê Út rút lui an toàn.

Sau khi trừng trị tên Hà Sinh, biết trước sau gì địch cũng phản ứng lại nên đồng chí Lê Út đặt mìn ở địa điểm bọn lính ngụy thường tập trung tổ chức đi càn. Đây là loại mìn được làm bằng thuốc súng đại bác lấy của địch. Ba giờ chiều cũng ngày, địch ra lệnh cho bọn lính tập hợp. Chúng giẫm phải mìn. Những tiếng nổ vang lên. Kết quả, đã có 7 tên lính chết và bị thương. Chúng hoang mang, phải bỏ dở kế hoạch đi càn.

Phát huy thắng lợi, 11 ngày sau đó, tổ công tác Điện Thắng tiếp tục diệt tên ác ôn Lê Tự Sằng, cuộc trưởng cảnh sát xã Thanh Trường. Tên Sằng cũng gây nhiều nợ máu với nhân dân như tên Sinh. Hắn thường dẫn lính ra chợ bắt người, tống tiền, tra khảo. Mạng lưới điệp báo do hắn tổ chức gây cho ta rất nhiều thiệt hại. Lê Tự Sằng ở Đà Nẵng. Hàng ngày, hắn dùng xe honda về đồn Ngũ Giáp làm việc. Sáng ngày 20 tháng 5, đồng chí Lê Út dẫn anh em lên đường quốc lộ số 1. Lần này, các đồng chí trong trang phục dân thường, giấu súng trong người. Anh em không cải tranh vì Lê Tự Sằng biết mặt hầu hết anh em trong tổ. Đúng 7 giờ sáng, hắn phóng xe từ xa đến. Anh em tiến lại gần, vòng tay khúm núm chào. Hắn tưởng các đồng chí xin đầu thú nên mừng lắm, dừng xe lại, nói “Đ. mẹ tụi bây, trên núi về hả?”. Y nói chưa dứt lời thì lực lượng ta đã nhất loạt nổ súng, giết tên ác ôn khét tiếng.

Tháng 6 năm 1969, ta chủ trương đưa 2 đại đội về vùng cát để đánh lực lượng “bình định” của ngụy và bọn lính Nam Triều Tiên. Bấy giờ, để đưa lực lượng từ vùng căn cứ về vùng cát Điện Ngọc, Điện Dương, phải đi theo đường hàng lang, vượt qua đường quốc lộ số 1 nằm trên địa phận Điện Thắng. Đây là đoạn đường Huyện ủy Điện Bàn giao cho du kích xã bảo vệ. Tuy nhiên, bấy giờ, tình căng thẳng nên địch tăng cường tuần tra, đón lỏng. Do đó, trong 4 đêm liền, các đồng chí giao liên không thể hoàn tất nhiệm vụ được giao. Trước tình hình ấy, chi bộ Viêm Tây đưa sự việc ra bàn bạc. Cuối cùng, chi bộ thống nhất đêm 15 tháng 6 năm 1969, chi bộ huy động hàng chục đồng bào giăng ra đồng làm tín hiệu cho 300 chiến sĩ với đầy đủ trang bị qua hàng lang một cách an toàn.

Ở huyện Điện Bàn, trong 6 tháng đầu năm 1969, bộ đội và du kích toàn huyện ta tổ chức nhiều trận lớn nhỏ, tiêu diệt nhiều tên địch, thu nhiều súng ống, đạn dược. Bị tổn thất nặng, địch thay đổi phương thức hoạt động. Chúng thành lập những đơn vị hỗn hợp, lính Mỹ hành quân cùng quân ngụy. Trong đó, quân ngụy chiếm 1/3 còn lính Mỹ chiếm 2/3. Riêng tại Điện Thắng, chúng đưa về 5 trung đội. Ta thường gọi đó là “Mỹ kép”. Bọn ngụy thông thạo hơn về địa hình, nắm chắc hơn về chiến tranh du kích. Lính Mỹ lại quen với kỹ thuật tác chiến hiện đại. Với sự kết hợp này, chúng tin rằng lính Mỹ và lính ngụy sẽ bổ sung cho nhau trong quá trình hành quân, càn quét. Mặt khác, đây cũng là lúc Mỹ tập dượt cho lính ngụy dần dần thay thế lính Mỹ, chuẩn bị cho chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hay nói đúng hơn là “thay màu da cho xác chết” khi Mỹ rút khỏi miền Nam.

Đáng chú ý, lính ngụy trong các đơn vị hỗn hợp này thường được chọn lọc nên quen với khả năng tác chiến, có kinh nghiệm khi lâm trận. Nguy hiểm hơn khi bọn chúng được sự hỗ trợ của bọn tề ngụy ở địa phương. Chúng thường tổ chức hành quân vào ban đêm, chía thành các tổ 3 đến 5 tên chốt giữ, phục kích tất cả những nơi chúng nghi ngờ cán bộ, đảng viên hay qua lại hoạt động. Thời gian đầu, chúng gây cho ta rất nhiều khó khăn trong quá trình duy trì hàng lang vận chuyển lương thực, thuốc men từ đồng bằng lên căn cứ cũng như vận chuyển vũ khí theo chiều ngược lại. Bên cạnh đó, địch còn dùng vật chất để mua chuộc, dụ dỗ quần chúng nhân dân. Chúng tuyên bố thưởng cho những ai nộp 1 quả mìn của du kích 5.000 đồng, 1 khẩu súng từ 50.000 đến 100.000 đồng. Riêng cán bộ ta về “chiêu hồi” được thưởng 50.000 đồng và 1 chiếc xe honda.

Với lực lượng hỗn hợp, lại được trang bị nhiều vũ khí hiện đại, kể cả loại súng máy cực mạnh dùng cho máy bay lên thẳng, Mỹ ngụy rất hung hăng, bước đầu gây cho ta nhiều tổn thất. Tại Điện Thắng, trong tổng số 52 đảng viên, du kích hy sinh năm 1969, có 16 đồng chí bị bọn này phục kích, chưa kể gần 10 cán bộ của huyện Điện Bàn và của Đặc Khu ủy Quảng Đà cũng lọt vào ổ phục kích của chúng. Địch còn bắn phá bừa bãi vào nhà của đồng bào như vụ bắn cháy nhà bà Bôn làm cả nhà bị chết cháy.

Trước tình hình ấy, Đảng bộ xã Điện Thắng quyết tấm chống địch đến cùng. Ta dùng khẩu hiệu “Lửa thử vàng, gian nan thử sức” để chống lại khẩu hiệu của địch “Tử tận tiêu diệt cộng sản nằm vùng”. Đặc biệt, để đối phó một cách hữu hiệu những âm mưu, thủ đoạn mới của địch, ta đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở trong hàng ngũ ngụy quân để anh em dễ dàng theo dõi, kịp thời báo cáo mọi hoạt động của địch. Đây cũng là lúc Đảng bộ xã quyết định tổ chức một tấn công địch, trả thù cho những đồng chí đã hy sinh. Nhiều cuộc họp nhằm thảo luận phương án đánh nhưng chưa có phương án nào được nhất trí. Cuối cùng, Đảng bộ chủ trương đánh địch vào lúc chập choạng tối, khi chúng chuẩn bị đưa quân đi mai phục.

Sau đó, lực lượng du kích tổ chức đánh trận đầu tiên ở nhà ông Trâm, thôn Thanh Quýt, diệt được 3 tên địch. Bấy giờ, ta dùng lựu đạn tấn công địch. Trận đánh kéo dài. Rút kinh nghiệm, Ban an ninh và Ban chỉ huy Xã đội quyết định tổ chức phối hợp thật chu đáo, tập trung hỏa lực để đánh một trận lớn. Đúng 18 giờ ngày 22 tháng 12 năm 1969, lực lượng ta gồm 1 trung đội bố trí làm 2 cánh. Đống chí Lào phụ trách cánh Nam, đồng chí Nhân phụ trách cánh Bắc. Sau khi chiếm lĩnh trận địa, ta nhanh chóng đặt mìn. Rồi, tất cả anh em phải ngâm mình dưới ruộng nước, ẩn nấp vào các bụi cây để chờ địch.

Nhưng, mãi hơn 1 tiếng đồng hồ sau, mới có 3 chiếc máy bay, 2 chiếc trực thăng bay quần trên bầu trời. Tuy nhiên, anh em ẩn nấp, ngụy trang rất kỹ nên chúng không thể phát hiện ra. Máy bay, trực thăng vừa bay khỏi thì từ nhà cơ sở ở bìa làng lóe lên hai ánh lửa báo hiệu địch đã xuất hiện. Chờ cho chúng lọt vào ổ phục kích, anh em giật mìn khiến cả bãi mìn nổ tung. Sau đó, lực lượng du kích ném lựu đạn, bắn xối xả vào đội hình địch. Trận đánh diễn ra chưa đầy 10 phút. Cả 2 trung đội địch bị diệt gần hết. Kết quả, đã có 51 tên địch chết, 14 tên bị thương. Ta thu nhiều vũ khí. Cùng lúc đó, cánh quân ở phía Nam do đồng chí Lền tập kích cũng diệt được 15 tên Mỹ. Trong đó, có 1 tên trung úy.

Thắng lợi của trận diệt Mỹ, ngụy khiến kẻ thù khiếp sợ. Suốt mấy tháng liền, chúng không dám đi lùng sục, bắt bớ dân lành như trước nữa. Hàng lang giao thông lại được phục hồi. Nhân dân rất phấn khởi. Phong trào cách mạng của quần chúng lên cao đến mức tên quận trưởng Điện Bàn tức tối. Một lần, y nổi sung chửi tên cuộc trưởng cảnh sát xã Thanh Trường là Hồ Văn Tùng “Hãy đi tìm tụi nằm vùng ở Điện Thắng để nó dạy cho cách bắn súng!”.

Có thể nói, sau một năm thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở Điện Thắng, địch chuốc nhiều thảm bại. Với hàng chục trận đánh lớn nhỏ, Ban an ninh và đội du kích xã đã giáng những đòn đích đáng vào Mỹ và tay sai, gây cho chúng nhiều thiệt hại về người và vũ khí. Với những thành tích nói trên, Đảng bộ và nhân dân Điện Thắng vinh dự được Khu ủy khu V tặng cờ khen và được đi báo cáo điển hình cho toàn Khu học tập, noi theo.

Tuy gặp nhiều thất bại trên khắp các chiến trường nhưng do yêu cầu phải gấp rút ổn định tình hình chiến sự để Mỹ dần dần rút quân về nước, địch tăng cường hàng loạt những biện pháp khác nhau để xoáy chuyển cục diện chiến tranh. Trong đó, những năm từ 1969 đến 1972, Mỹ ngụy ráo riết tập trung lực lượng hành quân càn quét, bình định. Tại huyện Điện Bàn, địch liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét như cuộc hành quân càn quét. Trong đó, lớn nhất, quy mô nhất là cuộc hành quân mang tên “Hoàng Diệu” vào cuối năm 1970. Năm 1971, chúng liên tục thực hiện kế hoạch “bình định đặc biệt”, “bình định phát triển toàn thắng” với quy mô lớn ở Viêm Tây, Phong Lục, An Thanh và xóm Trảng Thanh Quýt. Mặt khác, lợi dụng trận lụt năm 1971, chúng bắt cán bộ, bộ đội và du kích1. Dã man nhất là trận càn vào các xã Điện Thắng và Điện An diễn ra vào ngày 5 tháng 5 năm 1972, chúng lúa đồng bào ta xuống ao rồi xả súng bắn chết 4 người, làm nhiều người khác bị thương. Thắng 9 năm 1972, địch càn vào Phong Lục, bắn chết bà Nguyễn Thị Xin và Phạm Thị Liên.

Đồng thời, địch đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, tuyên truyền mỵ dân như lập các tổ “hợp tác”, cung cấp máy móc, trâu bò, phân bón cho nông dân, tổ chức chiếu phim, cổ võ cho đời sống mới ở ấp “tân sinh”, lôi kéo một số phần tử phản bội, đào ngũ như Nguyễn Thị Chua, Nguyễn Vĩnh Tin, Nguyễn Đăng Diêm… đánh phá phong trào cách mạng ở địa phương. Chỉ tính trong 3 năm, từ năm 1970 đến 1972, đã có 72 đồng chí đảng viên, du kích ưu tú bị địch giết hại, gần 50 đồng chí bị địch bắt, hàng trăm đồng bào bị giết, bị cầm tù. Trong những năm này, địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét, bắn phá, gây ra nhiều thiệt hại cho nhân dân. Theo đó, tổng thiệt hại của bà con toàn xã lên đến 1.575.000 đồng. Kéo theo việc hàng trăm nhà bị đốt, 3 trên tổng số 6 thôn bị đich cày trắng2.

Tháng 7 năm 1969, tại Đại hội Đảng bộ huyện Điện Bàn lần thứ 8, Đảng bộ huyện đã đề ra nhiệm vụ quan trọng là xây dựng và phát triển lực lượng, diệt ác, phá kèm, phá khu dồn của địch, bung dân ra, kéo dân về trụ bám vùng giải phóng, tiếp tục củng cố cấp ủy các xã, các ban, ngành. Tiếp đến, trong hội nghi chỉnh huấn, Huyện ủy nhấn mạnh phái “Lấy nhiệm vụ chống bình định, giành và giữ dân làm nhiệm vụ trọng tâm”3. Đồng thời, Huyện ủy cũng chỉ đạo đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng du kích, khẩn trương chuẩn bị và tham gia các chiến dịch Hè – Thu 1969. Trên cơ sở quán triệt những chủ trương, nghị quyết của Huyện ủy, tuy lực lượng du kích xã chỉ còn 20 đồng chí nhưng với tinh thần khắc phục khó khăn, anh em đã lập nhiều thành tích, ,tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch.

Ngày 20 tháng 8 năm 1970, các đồng chí Nguyễn Thị Luyến, Nguyễn Tô, Nguyễn Hữu Lào mưu trí, dũng cảm treo cờ giải phóng trên đường quốc lộ số 1, ngay phía trên cây xoan. Sáng hôm sau, bọn Mỹ kép đi lùng sục phát hiện thấy lá cờ. Chúng cẩn thận dò mìn nhưng không phát hiện thấy gì. Thế là chúng hạ lá cờ xuống. Mìn nổ. Ba tên lính Mỹ chết ngay tại chỗ. Rõ ràng, các đồng chí đã tìm cách đánh lừa địch. Thay vì đặt mìn ngay gốc cây, các đồng chí đặt mìn nối liền với cây sào. Có thể nói, đây là cách đặt mìn sáng tạo của tổ du kích Điện Thắng. Với cách đặt mìn này, các đồng chí gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Tháng 7 năm 1971, lực lượng du kích xã Điện Thắng do các đồng chí Trần Phước Đi, Trần Phước Ngô chỉ huy đã tổ chức một trận tập kích linh hoạt vào nơi đóng quân của bọn Mỹ kép ở xóm Chay. Anh em chia làm 3 tổ. Mỗi tổ đánh vào một nhà bọn Mỹ ở. Đúng 12 giờ đêm, đồng chí Trần Phước Đi bắn chết tên Mỹ mang máy bộ đàm PRC.25 để làm hiệu lệnh tấn công. Sau 5 phút chiến đấu, trận đánh đã kết thúc một cách nhanh gọn. Lực lượng du kích Điện Thắng đã tiêu diệt 11 tên Mỹ, làm 8 tên khác bị thương, thu 5 súng AR15.

Tháng 1 năm 1972, nắm được quy luật hoạt động của địch là buổi sáng chúng thường cho 1 trung đội từ Trảng Nhật ra quốc lộ số 1, du kích xã Điện Thắng quyết định phục kích bọn chuyên đi rà mìn này. Công tác chuẩn bị được tiến hành một cách khẩn trương. Anh em đặt mìn ngay trên đường đi của chúng. Tuy nhiên, sáng hôm ấy, một tình huống bất ngờ đã xảy ra. Thay vì 1 trung đội, địch đi 1 đại đội. Mặc dù vậy, lực lượng du kích vẫn quyết định đánh. Khi tốp lính đầu tiên đến vị trí, ta giật cho mìn nổ. Hai tên lính chết ngay tại chỗ, 2 tên khác bị thương. Khi chúng chưa kịp hoàng hồn, ngay lập tức, anh em vừa nã súng tới tấp, vừa ném lựu đanh vào đội hình chúng, giết thêm một số tên nữa. Nhưng, do địch quá đông nên chúng phản kích lại. Tổ du kích 7 đồng chí vừa đánh vừa rút lui. Trong trận này, có 1 đồng chí hy sinh.

Trong những năm từ 1969 đến 1972, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, lực lượng du kích xã Điện Thắng đã đánh 50 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 207 tên Mỹ và tay sai. Trong số đó, có 19 tên ác ôn. Ta cũng bắn cháy và phá hủy 2 xe bọc thép. Đặc biệt, anh em còn phối hợp với bộ đội vũ tranh tỉnh Quảng Đà, làm chủ 5 ngày trên quốc lộ số 1.

Song song với đấu tranh chính trị, phong trào đấu tranh chính trị cũng phát triển mạnh mẽ. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh diễn ra vào tháng 2 năm 1972. Bấy giờ, tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên từ đồn Trảng được lệnh kéo đến càn quét, vây ráp ở thôn Phong Lục để hỗ trợ cho bọn ngụy cày ủi ruộng vườn của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Điện Thắng, đồng bào thôn Phong Lục nổi dậy đấu tranh. Trong đó, lực lượng phụ nữ với các chị Chìa, chị Mận, chị Trung làm nòng cốt, là lực lượng chủ yếu đứng lên đấu tranh, kiên quyết chống hành động của kẻ thù. Hàng trăm người, hầu hết là phụ nữ, đã lăn xả vào xe bọc thép của địch, không cho chúng phá vườn tược. Có mẹ liều mình lấy dạo chặt đứt dây cháy chậm. Sau đó, nhanh tay nhặt lấy, quăng khối bộc phá ra ngoài.

Cuộc đấu tranh diễn ra giằng co, quyết liệt. Trong lúc địch cố cày ủi cho bằng được thì chị em chống đến cùng. Bởi vì, nếu để chúng cày ủi, sẽ lòi ra những hầm bí mật. Nhiều đồng chí cán bộ, đảng viên đang nấp dưới hầm sẽ hy sinh. Cuối cùng, trước tinh thần đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào, địch đành phải nhượng bộ. Chúng thôi không cày ủi nữa. Nhờ vậy, chị em đã góp phần bảo vệ được 25 hầm bí mật ở thôn Phong Lục, bảo vệ an toàn cho các đồng chí cán bộ, đảng viên, tránh được tổn thất cho phong trào cách mạng xã nhà.

Cũng tại thôn Phong Lục, địch ráo riết thực hiện chính sách “bình định”. Chúng âm mưu dồn dân vào khu dồn trong vành đai của do chúng kiểm soát. Chấp hành chủ trương của Huyện ủy Điện Bàn, nhân dân nhất tề đứng lên đấu tranh, quyết liệt chống lại kế hoạch của chúng, khiến kẻ thù không tài nào dồn đuổi bà con ra khỏi làng. Ngày 5 tháng 5 năm 1972, nhân việc địch tàn sát vô cớ 6 người dân của Điện Thắng và Điện An, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các xã, đã có hơn 1.500 bà con Điện Thắng, Điện An, Điện Hòa vào Vĩnh Điện đấu tranh phản đối địch bắn giết dân lành. Mọi người tập trung tại chùa Từ Quang, thôn Bồ Mưng. Đoàn người vừa trương cờ Phật tử vừa hô vang cấc khẩu hiệu “Đả đảo giết người vô cớ”, “Trừng trị bọn tội phạm”… Trước khi thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, địch phải nhượng bộ, chấp thuận bồi thường cho cho những gia đình có người thân bị giết.

Có thể nói, trong những năm từ 1969 đến 1972, nhân dân Điện Thắng đã tổ chức hơn 30 cuộc đấu tranh chính trị lớn nhỏ chống lại quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên và quân ngụy. Những cuộc đấu tranh này đều được cơ sở Đảng lãnh đạo nên tổ chức rất chăt chẽ, phân công rõ ràng như có lực lượng xung kích¸có bộ phận nòng cốt, lực lượng hậu bị, lực lượng đối đáp… Mỗi bộ phận đều đảm nhận tốt công tác được giao. Trong đó, những đảng viên hợp pháp luôn đi đầu, có nhiệm vụ lôi kéo quần chúng, chỉ đạo kịp thời những vụ việc phát sinh trong quá trình đấu tranh, đưa yêu sách đúng chỗ… Nhờ vậy, các cuộc đấu tranh đều đạt kết quả khả quan. Cũng trong thời gian này, nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác đấu tranh chính trị, chấp hành chủ trương của Huyện ủy Điện Bàn, Đảng bộ xã Điện Thắng đã cử nhiều chị em đi học các lớp bồi dưỡng về phương pháp đấu tranh chính trị, học tiếng Anh, tiếng Hàn để có thể nói chuyện trực tiếp với lính Mỹ, lính Nam Triều Tiên, tăng cường khả năng phân hóa, lôi kéo chúng ủng hộ các cuộc đấu tranh của đồng bào.

Trong thời kỳ này, phong trào cách mạng ở Điện Thắng cũng như nhiều địa phương khác, gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với tinh thần cách mạng tiến công, Đảng bộ càng đẩy mạnh công tác binh địch vận. Trên cơ sở đó, ta đã lập “Hội bảo trợ binh sĩ bỏ hàng ngũ địch về với nhân dân” với nhiều hình thức thực hiện khá phong phú như đến các khu gia binh hay gia đình binh sĩ ngụy thăm dò tình hình, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng. Khi điều kiện cho phép mới tuyên truyền, vận động, lôi kéo binh sĩ ngụy về với cách mạng. Kết quả, sau quá trình gặp gỡ, động viên cũng như tổ chức rải truyền đơn, hàng trăm lần gửi thư qua bưu điện để làm công tác binh địch vận, trong những năm từ 1969 đến 1971, ta đã lôi kéo được 23 lính ngụy về với nhân dân, tổ chức được 4 cơ sở trong hàng ngũ địch.

Việc cung cấp, bảo đảm lương thực, thuốc men cho vùng giải phóng luôn được chú trọng. Đảng bộ xã Điện Thắng đã thành lập “Hội đồng cung cấp phục vụ tiền tuyến” gồm 6 đồng chí do đồng chí Nguyễn Văn Trí làm Chủ tịch và đồng chí Nguyễn Huynh làm Phó Chủ tịch. Hội đồng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, từ quyên góp đến thu mua lương thực, huy động dân đóng góp kháng chiến… Trong 3 năm, từ năm 1969 đến 1971, Hội đồng đã huy động được 110 tấn gạo, 3.450.000 đồng ra vùng giải phóng. Bên cạnh đó, Hội đồng cũng huy động 1.756 lượt dân công, rút được 85 thanh niên bổ sung cho huyện và tỉnh. Trong đó, có 40 nữ.

Công tác tổ chức và xây dựng Đảng, xây dựng cơ sở quần chúng phát triển rất mạnh. Tính đến ngày 23 tháng 2 năm 1971, xã Điện Thắng đã xây dựng được 11 tổ đấu tranh chính trị hợp pháp có đảng viên làm nòng cốt, tổ công tác binh vận gồm 3 đảng viên và 5 đoàn viên1. Đặc biệt, tuy bị địch đánh phá ác liệt nhưng nhờ làm tốt công tác phát hiện, bồi dưỡng nên công tác phát triển Đảng đạt nhiều kết quả. Số đảng viên tăng nhanh. Nếu đầu năm 1968, toàn xã có 85 đồng chí thì đến năm 1969 chỉ còn lại 14 đồng chí. Trong hai năm 1969 và 1970, Đảng bộ bị tổn thất nhiều với 35 đồng chí hy sinh, 19 đồng chí bị địch bắt. Nhưng sau đó, nhờ công tác phát triển Đảng, số lượng đảng viên lại tăng lên, với 69 đồng chí năm 1970 và đến năm 1971 tăng lên 81 đồng chí.

Về công tác tổ chức lực lượng, có thể nói năm 1972, Đảng bộ và nhân dân Điện Thắng thực hiện được nhiệm vụ quan trọng. Chấp hành Nghị quyết tháng 12 năm 1971 của Ban Thường vụ Khu ủy Khu V về chủ trương “Tấn công và nổi dậy giành quyền làm chủ toàn bộ nông thôn, đánh bại cơ bản kế hoạch bình định của địch”, Đảng bộ xã Điện Thắng tích cực chuẩn bị lực lượng. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng¸ toàn xã đã xây dựng được hơn 1.000 người chia thành 4 tiểu đoàn. Tiểu đoàn 1 là Bồ Mưng, tiểu đoàn 2 là Viêm Tây, tiểu đoàn 3 là Thanh Quýt và tiểu đoàn 4 là An Thanh và Phong Lục. Các tiểu đoàn này do các đồng chí Nguyễn Thị Bảy, Lê Công Tri, Nguyễn Văn Trí, Trần Thị Dũng phụ trách.

Tuy nhiên, do tình hình thay đổi, ta không sử dụng các tiểu đoàn này nhưng nó chứng tỏ khả năng tập hợp lực lượng của xã Điện Thắng. Khi cần, Đảng bộ có thể huy động hàng ngàn người chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Bên cạnh đó, công tác kêu gọi thanh niên nhập ngũ cũng đạt kết quả khả quan. Chỉ tính trong năm 1970, đã có 61 thanh niên hăng hái gia nhập lực lượng vũ trang, cầm súng chiến đấu chống kẻ thù.

Một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Đảng bộ và nhân dân xã Điện Thắng là công tác bảo vệ hàng lang đưa đón cán bộ ra vào vùng địch. Đó là con đường đi từ vùng A, tức vùng căn cứ cách mạng, qua vùng B, tức vùng Điện Thắng, đến vùng K, tức vùng cát Điện Ngọc, Điện Nam… Rõ ràng, trên đường hàng lang đó, Điện Thắng nằm ở vị trí xung yếu, có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của con đường nối liền vùng giải phóng, vùng tranh chấp với vùng địch kiểm soát. Nhận thức được tầm quan trọng của con đường này, Huyện ủy Điện Bàn giao trách nhiệm cho Đảng bộ và nhân dân Điện Thắng bảo vệ, xem đó là một trong những công tác có tầm quan trọng đặc biệt.

Để bảo vệ đường hàng lang, cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Điện Thắng tốn rất nhiều công sức lẫn xương máu. Nhưng để thông tin, báo hiệu có hay không có địch, an toàn hay không an toàn, bà con có nhiều cách sáng tạo. Họ dùng dây tre gai để lấp đường. Hễ thấy tre gai lấp đường, tất nhiên có địch. Hoặc khi vác cuốc ra đồng, cuốc ở vai trái có địch, vai phải thì không. Rồi khi thắp hương ngoài đồng, bên đường hàng lang, hương có 7 cây là có địch, 3 cây là không… Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, để bảo vệ hàng lang, nhiều người đã ngả xuống. Nhưng, điều cơ bản nhất là tính mạng của bộ đội, cán bộ, đảng viên đi trên đường hàng lang an toàn.

Trên cơ sở đó, trong báo cáo tổng kết tình hình công tác chống “bình định giành dân” từ năm 1968 đến 1972, Huyện ủy Điện Bàn nhận xét rằng tuy nhiều lúc tình hình khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua nhưng Đảng bộ và nhân dân xã Điện Thắng “… quyết vào nằm sẵn giữa lòng địch, liên tục tấn công địch, trong đánh ra, ngoài đánh vào làm cho địch liên tục bị tổn thất phải co lại, mở được thế làm chủ, phong trào lên”1. Với những thành tích ấy, trong những năm từ 1969 đến 1972, Đảng bộ và nhân dân Điện Thắng đã được cấp trên tặng thưởng cho cán bộ và nhân dân nhiều phần thưởng xứng đáng. Trong đó, có một huân chương giải phóng hạng nhì về thành tích toàn diện năm 1972, một huân chương giải phóng hạng ba về thành tích toàn diện năm 1971, hai huân chương giải phóng hạng nhì về thành tích diệt địch và thu mua lương thực năm 1972.

Từ Xuân Hè năm 1972 trở đi, thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên rút quân dần về nước. Nhân cơ hội, lực lương ta liên tục mở nhiều đợt tấn công, diệt nhiều cứ điểm, đồn bót quân nguỵ, loại ra ngoài vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch trên khắp các chiến trường, đánh bại nhiều cuộc hành quân quy mô của Mỹ nguỵ. Đặc biệt, từ sau cuộc Tổng Tiến công chiến lược năm 1972, tình hình có nhiều chuyển biến quan trọng. Ta tiếp tục giành được nhiều thắng lợi trên khắp các chiến trường, buộc địch phải ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Nhưng, đế quốc Mỹ vẫn chưa hoàn toàn từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Được sự hỗ trợ của Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngang nhiên phá bỏ Hiệp định, tiến hành chiến dịch “Tràn ngập lãnh thổ” nhằm đánh chiếm vùng giải phóng của ta. Chúng trắng trợn cắm cờ giành dân lấn đất, xoá vùng tranh chấp, ráo riết bắt lính dồn quân, phát triển lực lượng phòng vệ dân sự, củng cố lực lượng địa phương quân để làm nhiệm vụ bình định, đưa chủ lực thay thế quân Mỹ làm nhiệm vụ cơ động đánh phá ra vùng ta.

Tại Điện Thắng, ngày 28 tháng 1 năm 1973, tức ngay sau ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam, chấp hành chủ trương của Huyện ủy Điện Bàn, Đảng bộ xã cử người đi cắm cờ giải phóng và rải truyền đơn khắp các thôn trong xã. Tổ binh địch vận dùng loa phóng thanh kêu gọi binh lính địch ngừng bắn, tẩy chay cuộc bầu cử của địch, tổ chức họp với các gia đình binh sĩ ngụy tuyên truyền đường lối, chính sách của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng, ta còn tổ chức nhiều cuộc mít tinh chào đón hòa bình ở các vùng Bắc Bồ Mưng, Đông Phong Lục và xóm trên Thanh Quýt.

Tuy nhiên, ngay sáng hôm sau, ngày 29 tháng 1 năm 1973, địch tổ chức trận càn quy mô lớn vào Điện Bàn. Chúng bắn đại bác dồn dập vào Điện Thắng và các xã lân cận. Trung đoàn 56 ngụy với sự yểm trợ của xe bọc thép, chia làm 4 cánh, mỗi cánh 1 tiểu đoàn hung hăng tiến vào khu vực do ta kiểm soát. Trong đó, tiểu đoàn 1 hành quân vào khu vực Điện Thắng. Chúng vẽ cờ 3 que, dán khẩu hiệu lên nhà dân, bắt bớ dọa nạt đồng bào, tuyên truyền xuyên tạc Hiệp định Paris. Tiếp đến, tháng 2 năm 1973, địch tập trung 100 quân, với sự yểm trợ của 12 xe bọc thép hùng hổ kéo vào An Thanh, Phong Lục, Viêm Tây nằm trên địa bàn Điện Thắng. Lực lượng du kích bám trụ trận địa, liên tục chống trả, kềm chân địch hơn 5 giờ đồng hồ. Riêng tại Viêm Tây, sau 8 giờ, chúng mới kéo quân vào được.

Đồng thời, chúng ra sức củng cố lại bộ máy chính quyền ngụy xã thôn, đưa một số tên ngụy từ các nơi khác về tổ chức bộ máy kèm kẹp. Những tên này cấu kết với bọn phản động ở địa phương, tiêu biểu như các tên Võ Thọ, Võ Bán, Lê Đới… để dễ dàng đàn áp nhân dân. Đây cũng là thời điểm địch củng cố và chốt giữ 5 đồn chính với lực lượng khá hùng hậu gồm 5 đại đội. Đó là các đồn Ngũ Giáp, Đồn Trảng, Tứ Câu, Gò Võ và An Thanh. Tháng 4 năm 1973, chúng thành lập cái gọi là “Đảng bộ Đảng Dân chủ” gồm 56 tên. Trong đó, Võ Báu và Bà Liện làm Chủ tịch và Phó Chủ tịch. Chúng gấp rút đào tạo bọn thám báo nằm trong “Ủy ban Phụng Hoàng”, ráo riết truy lùng cơ sở cách mạng, hầm bí mật của ta. Có thể nói, những hoạt động của chúng gây nhất thời cho ta nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nhờ có sự lãnh đạo của Huyện ủy, phong trào nhanh chóng phục hồi và phát triển.

Lúc này, ta chủ yếu sử dụng đấu tranh chính trị, nhưng khi cần thiết phải sử dụng bạo lực, không cho địch lấn chiếm. Điển hình cho phong trào đấu tranh chính trị bấy giờ là cuộc đấu tranh khá đặc biệt diễn ra vào tháng 5 năm 1973. Đó là cuộc đấu tranh dưới hình thức đi chợ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và Ban đấu tranh chính trị xã Điện Thắng, khoảng 60 bà con ở địa phương ngày hôm ấy được huy động lần lượt kéo xuống đường quốc lộ 1A. Người gồng gánh, kẻ xách rổ rá, lại có chị xách giỏ… giả đò đi chợ.

Khi đoàn xe địch từ Đà Nẵng tiếp viện cho bọn lính đi càn ở Đại Lộc chạy ngang qua, một chị cán bộ hợp pháp của ta làm bộ đổ gánh rau sống của một cụ già. Nhân đó, mọi người liền chạy đến nhặt giúp. Đoàn xe vừa đến phải dừng lại. Thế là chị em nhào đến các xe khóc thảm thiết, kêu gọi chồng con, anh em lính ngụy hãy trở về với gia đình, đừng đi đánh trận mà chết bỏ xác. Bọn chỉ huy hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng làm cách nào, chị em cũng không chịu giải vây. Xe tiếp viện gần như chết dí tại chỗ. Cứ như thế, chị em giữ xe từ 7 giờ đến 9 giờ sáng. Hơn 2 giờ sau, chúng mới thông đường. Kế hoạch đưa quân đi tiếp viện bị thất bại.

Cũng sau Hiệp định Paris, trước những âm mưu, thủ đoạn lấn chiếm đất đai của kẻ thù, tháng 7 năm 1973, tại Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định phương châm của cách mạng miền Nam là đánh địch phá hoại Hiệp định Paris. Không những đánh trả mà còn phải phản công lại, tấn công cả căn cứ và sào huyệt chúng1. Chấp hành chủ trương của Đảng, Đại hội Đặc khu ủy Quảng Đà họp từ ngày 4 đến ngày 10 tháng 9 năm 1973 cũng đề ra nhiệm vụ trước mắt của Đảng bộ là ra sức đánh bại chiến tranh lấn chiếm của địch, giành dân, giữ dân, mở rộng quyền làm chủ, phát triển thực lực.

Trên cơ sở đó, kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị, Đảng bộ xã Điện Thắng chỉ thị cho lực lượng an ninh phối hợp với du kích mở một số trận đánh phản kích vào những toán quân dã ngoại của địch để cảnh cáo chúng. Tiêu biểu là trận đánh tại phía Nam thôn Phong Lục diễn ra vào ngày 8 tháng 7 năm 1973. Kết quả, ta đã diệt 16 tên ngụy khi chúng đang tổ chức đi càn, thu 10 khẩu súng. Tiếp đến, vào ngày 21 tháng 10 năm 1973, lực lượng an ninh vũ trang lọt sâu vào nách địch, cách đồn Ngũ Giáp 100 mét trên quốc lộ số 1. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Công Tri, anh em bất ngờ tập kích chiếc xe Jeep từ Hội An chạy ra Đà Nẵng, diệt tên trung tá Hoàng Trừng cùng tên thiếu tá Ngọ, quận trưởng quận Hương Điền cùng 3 tên lính tháp tùng.

Năm 1973, dù lực lượng ít ỏi nhưng du kích Điện Thắng tổ chức nhiều trận đánh quyết liệt, nhiều trận chống càn có hiệu quả, gây cho địch nhiều tổn thất về người và vũ khí. Tuy nhiên, năm 1973 và đầu năm 1974, địch tăng cường nhiều biện pháp tâm lý, ra sức xúc tát dân, càn quét ác liệt. Tính trung bình cứ 10 ngày chúng tổ chức 1 trận càn. Hầu như tất cả nhà dân đều có lính đóng. Cho nên, chúng phát hiện một số hầm bí mật của ta. Khi một số tên như Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Thị Kỉnh… phản bội, lực lượng đảng viên và cơ sở cách mạng ở Điện Thắng bị tổn thất một số. Tình hình có lúc căng đến mức có người không dám nuôi giấu cán bộ. Chi bộ Bồ Mưng lúc ấy chỉ còn 3 đồng chí là Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Kỷ, Nguyễn Thị Liền. Toàn bộ đảng viên trong chi bộ Viêm Tây đều bị bắt, số khác hy sinh. Đảng bộ xã chỉ còn 50 đồng chí1. Toàn bộ lực lượng du kich xã chỉ còn 3 đồng chí là các đồng chí Phan Thập, Nguyễn Chanh, Lê Văn Cư.

Sau khi từ Côn Đảo về, đồng chí Lê Út móc nối ngay với Đảng bộ Điện Thắng và lực lượng du kích xã. Nắm được thực trạng tình hình, đồng chí Lê Út bắt tay vào việc xây dựng lực lượng du kích gần như tù con số không. Với sự quyết tâm, đồng chí lặn lội đến từng nhà tuyên truyền, thuyết phục, vận động thanh, thiếu niên từ 15 tuổi trở lên tham gia du kích. Chỉ một thời gian ngắn, đồng chí đã thành lập tiểu đội du kích xã. Trên cơ sở đó, lực lượng du kích phối hợp với an ninh xã tiến hành nhiều trận đánh phá thế kèm kẹp của địch, tạo đà đưa phong trào phát triển.

Tháng 7 Năm 1974, du kích Điện Thắng phối hợp với bộ đội tập kích 1 trung đội ngụy diệt 7 tên, thu 2 súng và 1 máy PRC.25. Tháng 9 năm 1974, các đồng chí Lê Út và Phan Trạch đánh 1 chiêc xe Jeep trên đường ra Đà Nẵng, giết 1 tên trung úy và 2 tên hạ sĩ quan. Tháng 10 năm 1974, lực lượng du kích xã gồm 12 đồng chí bất ngờ tập kích vào đồn Ngũ Giáp làm trung đội dân vệ ở đây bỏ chạy tán loạn. Tuy trận tập kích náy không gây thiệt hại cho địch nhưng gây tâm lý hoang mang, lo sợ, khiến tinh thần binh lính địch sa sút.

Tuy nhiên, trận đánh nổi bật nhất của lực lượng du kích xã Điện Thắng trong năm 1974 là trận đánh diễn ra ở Gò Võ. Bấy giờ, biết có một tốp lính ngụy sắp đi vào thôn Viêm Tây, anh em du kích chỉ gồm 4 đồng chí nằm phục sẵn ngay sau các ngôi mộ. Đúng như dự kiến, khi bọn chúng tiến vào Gò Võ, anh em nín thở chờ đợi. Lúc chúng lọt vào ổ phục kích, các đồng chí đồng loạt nổ súng. Bị tấn công bất ngờ, địch lúng túng, không kịp chống trả. Ngay loạt đạn đầu tiên, đã có nhiều tên đổ gục xuống. Sau đó, chúng mới hoàn hồn, bắn xối xả vào khu mộ. Ta bắn trả quyết liệt trước khi rút lui. Kết quả, trong trận đánh phục kích này, lực lượng du kích xã Điện Thắng đã tiêu diệt và làm bị thương 11 tên. Về ta, đồng chí Nguyễn Thị Tài anh dũng hy sinh.

Có thể nói, qua từng trận đánh, trận phục kích, du kích và an ninh xã Điện Thắng không những gây cho địch nhiều tổn thất mà còn gây được tiếng vang, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng tửng bước hồi phục. Đó cũng là thời điểm bọn tề ngụy nao núng, dao động, không dám ở lại trong dân. Thế và lực của cách mạng mạnh dần lên, tạo tiền đề, cơ sở đưa công tác binh địch vận, đưa phong trào đấu tranh chính trị phát triển.

Từ cuối năm 1974 bước sang đầu năm 1975, tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam thay đổi nhanh chóng, hoàn toàn có lợi cho ta. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định chọn thị xã Buôn Mê Thuột làm mục tiêu chủ yếu trong trận đánh then chốt mở màn cho cuộc Tổng Tiến công và Nổi dậy xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam. Công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương, từ lực lượng quân sự đến lực lượng chính trị, công tác hậu cần và nhiều mặt công tác cấp thiết khác. Sau khi ta hoàn toàn làm chủ Buôn Mê Thuột, tinh thần của quân nguỵ suy sụp nặng. Thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã điểm.

Tại Điện Bàn, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, Đảng bộ và nhân dân xã Điện Thắng khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt. Các tổ chức đấu tranh chính trị, binh vận được củng cố một bước. Đồng thời, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng như thanh niên, phụ nữ, nông hội được triệu tập họp bàn, thảo luận tình hình, xây dựng thực lực, kịp thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Sôi nổi nhất là việc chuẩn bị lương thực. Bà con ra Đà Nẵng hay vào Vĩnh Điện mua nhiều thung phuy đem về, bí mật chôn giấu lúa gạo. Lúc này, ta móc nối được với một số lính lái xe chở gạo từ Đà Nẵng đổ xuống chùa Từ Quang, xã Điện Thắng và các quán bán nước dọc quốc lộ 1A. Bất kể ngày hay đêm, các mẹ, các chị, ngay cả những em bé chín, mười tuổi được huy động dùng bao cát hay túi nhỏ đổ đầy gạo, mang về nhà với danh nghĩa để nấu ăn hàng ngày nhưng thực chất cất giấu cho cách mạng. Nhờ tổ chức khéo léo, số lượng gạo mỗi người mua không đáng kể nên địch không nghi ngờ gì cả. Cùng với việc chuẩn bị lương thực, phục vụ chiến đấu, Đảng bộ xã Điện Thắng cũng được cấp trên giao nhiệm vụ tích trữ xăng dầu. Viện lý do các máy bơm nước trên địa bàn xã cần có xăng dầu để bơm nước tưới đồng ruộng, ta cử người đi mua. Sau đó, bà con được phân công tích trữ ở nhiều điểm khác nhau, ngụy trang cẩn thận, tránh sự chú ý của địch.

Lực lượng du kích và an ninh xã Điện Thắng cũng ngày đêm bám chắc tình hình địch, chuẩn bị vũ khí. Ban địch vận ra sức tuyên truyền, vận động binh lính ngụy rã ngũ, quay về với cách mạng. Đáng chú ý, ngay trong Tết 1975, qua công tác địch vận, quần chúng đã tuyên truyền, vận động 44 lính ngụy thuộc đại đội 4, tiểu đoàn 143 bỏ về nhà. Ngoài ra, đồng chí Nguyễn Văn Trí, phụ trách Ban binh vận xã Điện Thắng, chủ trương viết nhiều bức thư, cử người ra Đà Nẵng hoặc một số nơi khác gửi cho những gia đình này. Nội dung thư kêu gọi anh em lầm đường, lạc lối quay về với nhân dân, lập công chuộc tội, sẽ được cách mạng khoan hồng. Đầu năm 1975, cơ sở ta vận động được 8 thanh niên ở Đà Nẵng, trong đó có một người là nữ, đưa về địa phương tham gia cách mạng, phát triển 2 du kích mật, kết nạp 5 đoàn viên mới. Đến tháng 2 năm 1975, đã có 2 thanh niên gia nhập lực lượng du kích xã.

Lúc bấy giờ, tình hình chiến trường miền Nam thay đổi rất nhanh. Cùng với các tỉnh, thành khác, tại Quảng Nam, ngày 1 tháng 3 năm 1975, quân ta giải phóng Tiên Phước, từng bước uy hiếp Tam Kỳ… Còn ở Điện Thắng, ngay từ đầu năm 1975, lực lượng du kích và an ninh xã đẩy mạnh tấn công địch. Ngày 29 tháng 1 năm 1975, du kích xã gài mìn, diệt 4 tên địch, làm bị thương 3 tên khác. Tối ngày 15 tháng 2 năm 1975, bọn binh lính địch ở chi khu đi phục kích về cũng bị ta tấn công phải bỏ chạy tán loạn. Từ ngày 19 đến ngày 22 tháng 2 năm 1975, nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng đã nổ ra. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, anh em du kích mật tổ chức đánh địch trên đường quốc lộ số 1, tiêu diệt 5 cảnh sát dã chiến và 1 tên thiếu úy ban 2. Cũng trong ngày hôm ấy, đã nổ ra cuộc đấu tranh của nhân dân Điện Thắng, thu hút 500 người tham gia. Ngày 11 tháng 3 năm 1975, tại An Tự, tổ du kích tiến hành phục kích, diệt 2 tên địch. Ngoài ra, từ ngày 10 đến ngày 13 tháng 3 năm 1975, Đảng bộ xã đã huy động dân công khiêng 15 thương binh về căn cứ, tổ chức tặng cho anh em bộ đội 2 con heo, 19.000 đồng tiền mặt, 20 lon sữa và một số tặng phẩm khác.

Giữa lúc đó, chiến dịch Tây nguyên toàn thắng. Bọn ngụy quyền rúng động. Tinh thần binh lính địch hoang mang cực độ. Thời cơ giải phóng miền Nam đã chín muồi. Ngày 25 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Đây cũng là thời điểm tin chiến thắng các nơi dồn đập đưa về. Ngày 19 tháng 3 năm 1975 ta giải phóng Quảng Trị. Ngày 24 tháng 3, ta giải phóng Tam Kỳ1, Quảng Ngãi. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, giải phóng thành phố Huế. Bấy giờ, Đà Nẵng đã bị cô lập. Tại Điện Thắng, quân địch ở đồn Trảng, đồn Ngũ Giáp hoang mang cực độ. Quần chúng phấn khởi. Khí thế cách mạng dâng cao hơn bao giờ hết.

Chấp hành chủ trương của Huyện ủy, ngày 26 tháng 3 năm 1975, Đảng bộ xã Điện Thắng triệu tập cuộc họp mở rộng công tác chuẩn bị khởi nghĩa. Chị Võ Thị Xin và Huỳnh Thị Báu được cử ra Đà Nẵng mua vải. Sau đó, Đảng bộ huy động tất cả máy may trong xã ngày đêm phục vụ việc may cờ giải phóng. Các đoàn thể quần chúng đều ở trong tư thế sẵn sàng đứng lên thực hiện việc nổi dậy giành chính quyền. Nhờ vậy, ngày 27 tháng 3 năm 1975, khi Huyện ủy phát đi mệnh lệnh khởi nghĩa, gần 7.000 bà con Điện Thắng đồng loạt xuống đường.

Theo đúng kế hoạch, lực lượng quần chúng chia làm ba mũi, tiến vào những vị trí đã định. Một mũi do các chị Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Tấn lãnh đạo kéo vào đồn Trảng. Mũi thứ hai do các chị Huỳnh Thị Báu, Lê Thị Lộc chỉ huy nhắm hướng đồn Ngũ Giáp mà đi. Mũi cuối cùng do các chị Nguyễn Thị Điềm, Nguyễn Thị Cử dẫn đầu kéo đến đồn Gò Võ. Các mũi đấu tranh chính trị này được anh em các tổ du kích dưới sự chỉ huy của các đồng chí Lê Công Trị, Nguyễn Hữu Bì, Đỗ Hạnh, bám theo hỗ trợ.

Bấy giờ, bọn lính trong các đồn bót này đang tình trạng đang hoang mang cực độ. Cho nên, khi quần chúng kéo đến, dùng lời lẽ khuyên nhủ, chúng không dám kháng cự quyết liệt như trước. Nhưng, mãi đến 14 giờ chiều cùng ngày, ta đã san bằng đồn Ngũ Giáp, đồn Trảng, đồn Gõ Võ. Đến cuối ngày 17 tháng 3 năm 1975, một số đơn vị quân chủ lực đầu tiên của ta đã vào Điện Thắng. Rạng sáng ngày 28 tháng 3 năm 1975, lực lượng ta tập kết ở Điện Thắng, chuẩn bị tấn công vào Đà Nẵng. Đó cũng là thời điểm lịch sử, đánh dấu xã Điện Thắng hoàn toàn được giải phóng, chấm dứt 21 năm kháng chiến chống Mỹ đầy hy sinh và gian khổ.

CHƯƠNG BỐN :

ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN ĐIỆN THẮNG

THỜI KỲ ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT, CẢ NƯỚC

QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

  1. – 1985)

I- KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, RA SỨC KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ (1975 – 1979):

II- CẢI TẠO QUAN HỆ SẢN XUẤT CŨ, XÂY DỰNG QUAN HỆ SẢN XUẤT MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN (1979- 1985) :

CHƯƠNG NĂM :

THAM GIA THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI NỚI DO ĐẢNG KHỞI XƯỚNG VÀ LÃNH ĐẠO (1986 – 2005)

I- ĐIỆN THẮNG BƯỚC ĐẦU THỰC HIÊN SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI DO ĐẢNG KHỞI XƯỚNG VÀ LÃNH ĐẠO ( 1986 – 1990):

II- ĐẨY MẠNH CÁC PHONG TRÀO HÀNH ĐÔNG CÁCH MẠNG, TẠO CƠ SỞ, TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN (1990 – 2005):

CHƯƠNG KẾT LUẬN

Điện Thắng là vùng đất có vị trí quan trọng, nắm án ngữ ở phía Bắc tỉnh Quảng Nam và là một trong những cửa ngõ ra vào thành phố Đà Nẵng, thủ phủ của miền Trung, được khai phá từ khá sớm, ngay từ những năm cuối thế kỷ XV, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Khi đặt chân lên mảnh đất này, người dân Điện Thắng, có nguồn gốc từ nhiều tỉnh phía Bắc chủ yếu Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, vốn bản tính cần cù, chịu thương, chịu khó, đã vượt qua nhiều gian nan, thử thách, đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, biến Điện Thắng từ một vùng đất hoang vu, cây cối rậm rạp, nhiều nơi đầm lấy, nước đọng, đầy có lác… trở thành đồng ruộng tốt tươi, nhà cửa, làng mạc đông đúc, náo nhiệt như ngày nay.

Cùng với đức tính cần cù trong lao động sản xuất, người dân Điện Thắng cũng mang trong mình dòng máu yêu nước nồng nàn, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do cho Tổ quốc, vì sự nghiệp giải phóng quê hương. Trong

Cho nên, ngay trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, Điện Ngọc là một trong những vùng bàn đạp để quân Tây Sơn phát triển lực lượng. Khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, đã có không biêt bao nhiêu người con của đất Điện Ngọc anh hùng tham gia các phong trào yêu nước chống Pháp, từ phong trào Cần Vương đến phong trào Duy Tân, phong trào chống sưu thuế, cuộc khởi nghĩa Thái Phiên – Trần Cao Vân…. do các sĩ phu lãnh đạo. Tuy thất bại nhưng thông qua các phong trào nói trên, nhân dân Điện Ngọc đã thể hiện ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của mình.

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam được thành lập. Tiếp đến, ngày 5 tháng 4 năm 1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Điện Bàn ra đời. Đây là những sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng với nhân dân Điện Ngọc nói riêng và nhân dân cả nước nói chung. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Điện Ngọc hăng hái tham gia các phong trào cách mạng dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, hoà cùng khí thế chung của nhân dân cả nước, nhân dân Điện Ngọc hăng hái tham gia lực lượng tự vệ, ngày đêm luyện tập, canh gác bảo vệ chính quyền. Trong 9 năm kháng chiến trường kỳ chống Pháp, nhân dân Điện Ngọc hăng hái tham gia du kích, tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, tích cực làm dân công, phục vụ chiến trường. Bên cạnh đó, để chống âm mưu, thủ đoạn chiêu an, dồn dân của kẻ thù, nhân dân Điện Ngọc đồng loạt nổi dậy đấu tranh, hình thành phong trào mạnh mẽ khiến kẻ thù vô cùng bối rối, bị động đối phó. Nhiều thanh niên hăng hái lên đường gia nhập các lực lượng dân quân du kích, tham gia bộ đội chính quy. Đồng thời, phong trào xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang, phong trào đi dân công hoả tuyến, phong trào quyên góp ủng hộ kháng chiến… cũng diễn ra sôi nổi. Nhờ vậy, trong suốt chín năm trường kỳ kháng chiến, nhân dân Điện Ngọc đã lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần xứng đáng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Hiệp định Genève được ký kết. Nhưng đế quốc Mỹ rắp tâm phá hoại Hiệp định. Chúng hất cẳng thực dân Pháp âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về nước lập nội các mới, xây dựng bộ máy tay sai từ trung ương đến cơ sở, tiến hành đàn áp, khủng bố những người kháng chiến cũ… Đặc biệt, chúng thi hành Luật 10/59, đặt những người cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Chúng điên cuồng bắn giết, thủ tiêu, giam cầm, gây ra những tội ác dã man. Mặt khác, chúng còn ra sức kìm kẹp nhân dân với dã tâm bắt bà con phải ly khai Đảng, từ bỏ Đảng Cộng sản…Phong trào đấu tranh của nhân dân Điện Ngọc gặp nhiều khó khăn, tổn thất. Thế nhưng, nhân dân vẫn một lòng kiên trung với cách mạng, thà chết không hề phản bội, không chịu đầu hàng. Nhờ vậy, khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, phong trào cách mạng ở Điện Ngọc nhanh chóng phục hồi và phát triển. Trong đó, nổi bật là phong trào Đồng khởi năm 1964 giải phóng xã nhà. Tiếp đến là các phong trào đấu tranh chống địch càn quét, lấn chiếm; phong trào phá các khu dồn; phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi của quần chúng nhân dân; cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và nhất là cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1975…Thông qua các phong trào đấu tranh, các cuộc đấu tranh, nhân dân Điện Ngọc đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc.

Tuy nhiên, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Điện Ngọc là mảnh đất đã chịu nhiều hy sinh, mất mát về người và của. Theo thống kê, đã có 40% dân bị giết hại hoặc tàn phế vì bom đạn địch; 90% cán bộ thanh niên thoát ly hoặc hoạt động bất hợp pháp và một bộ phận cán bộ trong xã tập kết ra Bắc trở về chiến đấu hy sinh; 100% nhà cửa vườn tược và 80% ruộng đất bị cày ủi san bằng… Cũng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đầy hy sinh và gian khổ, người dân Điện Ngọc không những trực tiếp cầm súng tiêu diệt quân thù mà còn tích cực nuôi giấu, che chở cán bộ, bộ đội. Nhiều người bị bắt, bị tra trấn, tù đày nhưng không hề khai báo. Nhờ vậy, Đảng bộ và nhân dân Điện Ngọc đã đạt nhiều thành tích xuất sắc, được Nhà nước tặng hàng ngàn huân, huy chương, bằng khen, giấy khen cho những tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Toàn xã có 3 đồng chí được phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. nhân dân. Đó là các đồng chí Trần Thị Én, Nguyễn Thị Tiết và Lê Văn Trà. Ngoài ra, Điện Ngọc còn có…. Bà mẹ được Nhà nước phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Toàn xã có 1048 liệt sĩ, 1013 gia đình có công với cách mạng. Đánh giá những công lao to lớn của Đảng bộ và nhân dân xã Điện Ngọc trong hai cuộc kháng chiến, tháng 8 năm 1995, xã được Nhà nước phong tặng danh hiệu xã Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Những thắng lợi mà Đảng bộ và nhân dân Điện Ngọc giành được trong ba mươi năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ mà tiền thân là các tổ chức cơ sở Đảng, tinh thần đấu tranh kiên cường, dũng cảm, biết vượt qua mọi khó khăn, thử thách của nhân dân. Trong đấu tranh, Đảng bộ đã kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc, không lùi bước trước mọi hy sinh, gian khổ, luôn nêu cao tinh thần quật cường trong chiến đấu chống kẻ thù. Đặc biệt, trong bất kỳ tình huống nào, Đảng bộ cũng bám sát dân, biết dựa vào dân, luôn căn cứ vào tình hình thực tế để đề ra những chủ trương, biện pháp phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời, Đảng bộ cũng biết phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc thông qua những hoạt động tích cực của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng. Thắng lợi ấy cũng xuất phát từ sự quan tâm chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Đảng bộ cấp trên, trực tiếp là Đảng bộ huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, và sau này là Đặc khu uỷ Quảng Đà, cùng sự giúp đỡ tích cực của các ban ngành, đoàn thể và sự chi viện sức người, sức của của nhân dân miền Bắc trong suốt cuộc kháng chiến cứu nước đầy hy sinh và gian khổ.

Những trang sử vẻ vang, hào hùng của Đảng bộ và nhân dân Điện Ngọc trên những chặng đường kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế hệ hôm nay và mai sau sẽ mãi mãi ghi nhớ công ơn của các bậc cha ông đã từng hy sinh, mất mát trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ nhằm giải phóng quê hương. Những truyền thống vẻ vang, anh hùng ấy sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ tự hào với truyền thống anh hùng của Đảng bộ và nhân dân Điện Ngọc, ra sức phát huy, đóng góp sức lực, trí tuệ trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong công cuộc đổi mới hôm nay, vững bước tiến lên trên hành trình vào thế kỷ XXI theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn nhằm xây dựng Điện Ngọc ngày càng phát triển giàu mạnh, nhân dân ấm no và hạnh phúc.

– Tổng kết thành tích ba mươi năm kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ của quân và dân Điện Thắng.

– Những thành tựu của Đảng bộ và nhân dân Điện Thắng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Những bài học kinh nghiệm.

1 Kể từ đây, chúng tôi dùng từ xã Điện Thắng để chỉ ba xã hiện nay là Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam.

1 Riêng Thanh Quýt trích ra 1 mẫu.

1 Còn gọi là Lục Giáp

1 Theo “Lịch sử Đảng bộ huyện Điện Bàn 1930 – 1975” do Nxb. Đà Nẵng xuất bản năm 2003, trang 63- 64, năm 1942, đã có 12/14 chi bộ bị vỡ. Số lượng đảng viên và quần chúng bị bắt khoảng 300 người.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam. – Văn kiện Đảng toàn tập. – Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. – Tập 7. – Tr. 367.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam. – Văn kiện Đảng toàn tập. – Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. – Tập 8. – Tr. 26 – 27.

1 Hồ chí Minh toàn tập. – Tập 4: 1945 – 1946. – Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. – Tr. 480

1 Năm 1945, Điện Thắng có 15 đồng chí đảng viên.

1 Còn 4 thôn của Điện Hòa có 8 chi bộ.

1 Sau trận đánh này, nhân dân Điện Thắng có làm bài vè nổi tiếng mà cho đến nay vẫn còn người còn thuộc. Bài vè như sau “Lúc 4 giờ chiều ngày sáu từ Hàn chạy vô/ Toàn Tây chẳng có Măng đô/ Rõ ràng 13 chiếc ô tô chở đầy/ Bộ đội đã sẵn sàng nga/ Bộ đội đã sẵn sàng ngay/ Du kích các bạn chờ vây giật mình/ Chỉ huy đợi lệnh đưa tin/ Tiếng súng phát lệnh, tiếng mìn gầm vang/ 13 xe tiêu diệt hoàn toàn/ Phá hủy hết 8 kéo hàng hết 5/ Bắt đầu cây số 15/ Quân thù biết giết hai trăm rõ ràng”. Tuy nói là giết 200 tên địch nhưng thực tế chỉ gần 100 tên.

1 Nằm trên địa bàn xã Điện Phong hiện nay.

1 Thuộc xã Điện Hòa

1 Dày 1,1m đến 1,3m

1 Can cứu gồm đảng viên, cán bộ, cơ sở cách mạng có liên quan.

2 Còn gọi là Út

1 Nay thuộc huyện Nam Giang

1 Còn gọi là Chánh

1 Đảng Cộng sản Việt Nam. – Văn kiện Đảng toàn tập. – Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. – Tr. 153

2 Khu VI chưa tách ra nên lúc đó gọi là Liên khu V. Tháng 7 năm 1961, tách khu VI ra khỏi Khu V.

3 Út.

1 Tức Điện Thắng.

1 Đảng bộ huyện Điện Bàn. – Lịch sử Đảng bộ huyện Điện Bàn (1930 – 1975). – Nxb. Đà Nẵng, 2003. – Tr. 195.

1 Từ đây, xã mang tên chính thức là xã Điện Thắng.

1 Thời gian phục vụ dân công trong 3 tháng.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam. – Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước. Tập II. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986. – Tr. 8.

2 Báo cáo tổng kết phong trào du kích chiến tranh tỉnh Quảng Đà (3.1965 – 10.1967). Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng. – Ký hiệu 30.III. – Tr. 11.

1 Lịch sử Đảng bộ huyện Điện Bàn (1930 – 1975). Sách đã dẫn, trang 220 không ghi sự kiện bắt 13 tù binh địch.

1 Bí thư Đảng uỷ Điện Thắng tư năm 1965.

1 Sau này, cả hai đồng chí đều hy sinh.

1 Lệnh này đã được hoãn. Nhưng do Mặt trận 4 nhận lệnh chậm nên ta không kịp hoãn. Do đó, ta nổ súng sớm hơn 1 ngày so với toàn chiến trường.

1 Đồng chí Ngô Ba thay đồng chí Ngô Diệt đã hy sinh ngày 8 tháng 1 năm 1968, làm Bí thư Đảng ủy.

1 Repression, terrorism nassacre, plundor, house burning and women rasping… are not the democratic Americains ideal

2 You are boine porced to commit atrocious crimes in daily terrorist raids, how can replect howr upo, youself and the USA.

1 Sau tên Hà Minh là tên Võ Thọ.

1 Ngay t năm 1965, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân và Việt Nam, đội thiếu niên quyết tử xã Điện Thắng đã được thành lập với các em như Lê Tự Thống nhứt, Nguyễn Thị Sáu, Đỗ Duy Phúc, Nguyễn Mai, Đỗ Quyết Tiến… Hầu hết các em đều ở lứa tuổi 12 đến 14 tuổi. Đội đã làm được nhiều việc như giao liên, trinh sát. Ngoài ra, các em còn tham gia đánh địch, lấy súng địch tiêu diệt địch. Trong số đó, có nhiều em chiến đấu cực kỳ dũng cảm, hy sinh anh dũng.

1 Do nước ngập, không có chỗ để ẩn nấp.

2 Theo tài liệu tổng kết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ 8, tháng 4 năm 1971.

3 Lịch sử Đảng bộ huyện Điện Bàn (1930 – 1975). Sách đã dẫn. – Tr. 249.

1 Theo tài liệu tổng kết của Đại hội Đảng bộ xã Điện Thắng lần thứ 8.

1 Lịch sử xã Điện Thắng qua các thời kỳ. Bản thảo đánh máy. Tài liệu lưu tại Đảng uỷ xã Điện Thắng Trung.

1 Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (1930 – 1945) . – Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. – Tr. 586.

1 Trong đó, có nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng như đồng chí Phan Trì, Chính trị viên Xã đội, hy sinh ngày 22 tháng 1o năm 1973; đồng chí Lê Tự Thống Nhứt, Xã đội phó, hy sinh vào tháng 8 năm 1973l; đồng chí Nguyễn Thị Xê, hy sinh ngày 20 tháng 11 năm 1973; đồng chí Đỗ Vui, hy sinh tháng 2 năm 1974; đồng chí Huỳnh Lý hy sinh tháng 4 năm 1974… và một số đồng chí khác.

1 Sau này, ngày 24 tháng 3 năm 1975 được lấy làm ngày giải phóng tỉnh Quảng Nam.

108