Trang chủ > bài viết > Lịch sử hình thành câu nói “Quảng Nam hay cãi”

Lịch sử hình thành câu nói “Quảng Nam hay cãi”

23/11/2012

Lịch sử hình thành câu nói “Quảng Nam hay cãi”

Theo http://dumi.vnweblogs.com/print/31822/371188

Câu nói “Quảng Nam hay cãi” đã có từ rất lâu trong lịch sử. Thế nhưng, để biết được vì sao có câu nó này thì còn là một dấu chấm hỏi chưa có lời giải đáp. Trong nội dung bài viết này, tôi chỉ đưa ra những giả thuyết khác nhau:

Trước kia Quảng Nam là vùng đất của Chiêm Thành. Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông (lúc này đã truyền ngôi cho Trần Anh Tông và đang tu hành ở núi Yên Tử) nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành. Tại đây, ông được Chế Mân là vua của nước Chiêm Thành tiếp đãi nồng hậu. Ông đã ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân mà không đòi bất kỳ một điều kiện gì. Sau đó, nhiều lần Chế Mân sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng triều thần nhà Trần phản đối. Lúc này, chắc hẳn trong triều đình đã xảy ra một cuộc tranh luận rất gây gắt. Mãi đến năm 1306, theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại Việt là Trần Nhân Tông thì vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân. (Có ý kiến cho rằng, sính lễ dâng châu Ô và châu Rí là ý muốn của Trần Anh Tông và triều thần nhà Trần.) Lúc này, người Việt dần định cư tại hai vùng đất mới. Người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc. Chắc hẳn không có một dân tộc nào chấp nhận nhường vùng đất mà xưa nay mình sinh sống cho một dân tộc khác. Từ đây, sẽ diễn ra một cuộc cãi vả gây gắt giữa người Chiêm Thành và người Việt. Từ những lý thuyết trên, ta có thể thấy rằng 2 nguyên nhân đầu tiên có thể nói là tiền đề hình thành nên câu nói “Quảng Nam hay cãi” là:

–         Ý định gã công chúa Huyền Trân (Việt) cho vua Chế Mân (Chiêm Thành) của Trần Nhân Tông đã bị Trần Anh Tông và triều thần nhà Trần phản đối. Từ đó, nảy sinh một mâu thuẫn đầu tiên nên phải đến 5 năm sau hôn lễ mới được tiến hành.

–         Sau khi dâng Châu Ô và Châu Rí, người Việt tiến dần vào phía Nam, lấn sâu vào vùng đất mà xưa nay vốn dĩ của nước Chiêm Thành. Từ đây, chắc hẳn nãy sinh một cuộc mâu thuẫn giữa người Việt và người Chiêm Thành tranh giành nhau vùng đất này.

 Đầu thế kỷ XVIII, Hội An (Quảng Nam) trở thành thương cảng nổi tiếng của khu vực. Việc các thương lái đi lại giao lưu thương mại mang đến cho vùng đất nơi đây một nền văn hóa đa đạng bản sắc. Giao thoa văn hóa của các dân tộc: Nhật, Hoa, Pháp,… giúp cho tư duy trí tuệ của người dân được mở mang. Từ đó, họ luôn “cãi” để tìm lẽ phải để khẳng định “cái tôi” của chính mình.

Sau này, nhà văn Nguyên Ngọc bổ sung: “Cùng ra đi theo Nguyễn Hoàng vào Nam là những người quyết rời một xã hội đối với họ không còn có thể sống được nữa… Họ đi tìm một lối thoát, một lối mở cho một xã hội đã phân rã. Đó chính là thành phần quan trọng nhất trong những tiên dân xứ Quảng. Đấy là những con người đã quyết “cãi lại” một xã hội cũ, một cách sống cũ, đi tìm một xã hội mới, một cuộc sống mới, một cách làm người Việt kiểu khác, mới. “Quảng Nam hay cãi” chính là sinh ra từ đây chăng? Quảng Nam đã “cãi lại” từ đầu!” (Tìm hiểu con người Xứ Quảng, NXB Đà Nẵng 2005). Thật khó có thể tin những người dân miền Bắc trước kia có thể từ bỏ quê hương của mình để vào Nam lập nghiệp. Ấy chắc hẳn là những con người cá tính mạnh mẽ, cương trực, sẵng sàng từ bỏ cái cũ để tìm kiếm một vùng đất mới có nhiều tiến bộ hơn.

Theo Vũ Đức Sao Biển, sở dĩ người Quảng Nam hay cãi vì do điều kiện kinh tế, xã hội, Quảng Nam luôn chịu nhiều thiên tai mùa hè thì nắng nóng, mùa đông thì lũ lụt nên người Quảng Nam phải luôn đấu tranh chống lại thiên nhiên để sinh tồn. Vì vậy, đấu tranh trở thành thuộc tính của người Quảng Nam. Mặc khác, người Quảng Nam có điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nên họ luôn phải dung trí tuệ của mình để lý luận tìm ra lẽ phải. Tuy cuộc sống khó khăn nhưng người dân nơi đây luôn có dũng khí và có lẽ cũng vì “cái tôi” của mình nên họ không thể nào nhường nhịn với những gì diễn ra trước mắt mà không vừa ý.

Đấy là những tiền đề tạo nên cá tính của người Quảng Nam. Trong lịch sử dân tộc, có không ít những nhà trí thức là người Quảng Nam dám cãi lại bề trên, cãi lại cái sai để tìm lại chân lý:

Phạm Phú Thứ dâng sớ can ngăn vua Tự Đức không nên ăn chơi xa xỉ mà bị cách chức gia ở nhà lao Thừa Thiên và bị đầy làm lính.

Năm 1908, khi diễn ra phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ, người dân Quảng Nam đã đứng lên “cãi lại” chính quyền thực dân Pháp và tay sai.

Phan Châu Trinh đã dựa vào chính sách của “Chính phủ bảo hộ”, ông đã gởi bản điều trần lên Toàn quyền Đông Dương trình bày hoàn cảnh của dân, quan lại độc đoán, thuế khóa nặng nề và yêu cầu “Chính phủ” chú ý về cuộc cải cách ấy. Năm 1922, ông đã “cãi” đến “thiên tử” không làm tròn trách nhiệm. Đó là sự kiện khi vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo ở Marseille, ông đã viết Thư thất điều kể bảy tội của vị vua này, trong đó có hai tội không thể dung tha: làm nhục quốc thể và phung phí của dân. Có thể xem Thư thất điều là bản tuyên ngôn đầu tiên của một công dân nước ta với người cầm quyền cao nhất.

Vào năm 1924, cuộc chiến giữa 2 nhà báo là Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế. Nếu Phạm Quỳnh đề cao Truyện Kiều là “quốc hồn, quốc hoa, quốc túy” thì Ngô Đức Kế chống lại luận điệu dối trá ấy bằng bài viết “Nền quốc văn và Luận chính học cùng tà thuyết”. Thế nhưng, Phạm Quỳnh vẫn im lặng. Sáu năm sau, Phan Khôi (Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn) và Huỳnh Thúc Kháng (Tiếng Dân) nói về sự im lặng của Phạm Quỳnh. Thế là cuộc tranh luận gây tiếng vang khắp cả nước bởi ba nhà báo tiếng tăm và sắc sảo của các tờ báo lớn (Phạm Quỳnh, Phan Khôi và Huỳnh Thúc Kháng) trong nước thời ấy. Không dừng lại ở đó, hơn mười năm sau (1941), hai nhà báo gốc Quảng này lại bắt bẻ lẫn nhau về chuyện “thơ mới” được đăng tải trên báo Tiếng Dân và Dân Báo. Có lẽ vì vậy mà người dân cả nước thời bây giờ bắt đầu chú ý nhiều hơn đến giọng nói của các ông. Phải chăng câu nói “Quảng Nam hay cãi” có từ thời gian này?

Gần đây nhất, chắc hẳn mọi người vẫn chưa quên chuyện có quan chức Quảng Nam “cãi lệnh trên” được nhiều người biết đến. Đó là ông Lê Trí Tập, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, trong cơn lũ lịch sử tháng 12-1999 đã “cãi lệnh trên” quyết không phá đập Phú Ninh, và ông đã đúng khi bảo vệ được đập Phú Ninh, bảo vệ tính mạng hàng ngàn người dân.

Tất cả những điều trên đây chỉ là giả thuyết. Câu trả lời cho câu hỏi này vẫn còn là dấu chấm hỏi mà khó có một nhà nghiên cứu nào có thể tìm ra câu trả lời. Với bản tính của người Quảng Nam, mỗi người một ý kiến và chắc chắn sẽ không có ai chấp nhận câu trả lời một cách chủ quan.