Trang chủ > bài viết > Nhà thơ Thu Bồn – Người con Thanh Quýt

Nhà thơ Thu Bồn – Người con Thanh Quýt

21/06/2012

Nhà  thơ Thu Bồn – Người con Thanh Quýt

Đây là bài chúng tôi tập hợp từ nhiều bài viết về nhà thơ, nhà văn Thu Bồn

Bài của Triệu Xuân viết về Thu Bồn

  Thu Bồn tên khai sinh: Hà Đức Trọng, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1935, tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam; Từ trần lúc 19 giờ 15 ngày 17-6-2003 tại thành phố Hồ Chí Minh. Theo người anh ruột và chị ruột của Thu Bồn kể trong tác phẩm Thu Bồn – Gói nhân tình, NXB Văn học, 6-2004, thì Thu Bồn sinh ngày 10 tháng 12 năm Ất Hợi (1935), tính theo Dương lịch là ngày 04-1-1936. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1962.

           Xuất thân trong một gia đình yêu nước, cách mạng, Thu Bồn tham gia thiếu sinh quân từ năm mười hai tuổi. Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, ông có mặt tại các chiến trường gian khổ và ác liệt như Tây Nguyên, Khu 5 (Trung Trung bộ), Quảng Trị… Ông từng là biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ; Biên tập viên, cán bộ sáng tác Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Đất nước thống nhất, ông lại có mặt tại mặt trận biên giới Tây Nam và cùng quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu trên đất Campuchia, giúp nhân dân nước bạn tiêu diệt bọn Polpot diệt chủng. Thu Bồn là một người lính thực thụ. Đồng bào Tây Nguyên vô cùng thương yêu quý mến ông, một nhà thơ-chiến sỹ. Trong những năm chiến tranh vô cùng ác liệt, Thu Bồn đã lặn lội hết chiến trường này đến chiến trường khác, cùng sống và chiến đấu với nhân dân, với du kích, với quân đội chính quy… Tinh thần xả thân vì nước mãi mãi ngấm sâu và tim óc nhà thơ, âm vang sâu sắc trong những bản trường ca, những bài thơ và sôi sục trong những cuốn tiểu thuyết. Lãng mạn đến tột đỉnh, yêu thương nồng cháy, hiện thực đến tươi rói, đó là tinh thần chủ đạo trong các tác phẩm văn, thơ của Thu Bồn. Tác phẩm chính của Thu Bồn gồm: Bẩy trường ca và 4 tập thơ: Bài ca chim Chrao (trường ca, 1962); Tre xanh (thơ, 1969); Mặt đất không quên (thơ, 1970); Quê hương mặt trời vàng (trường ca, 1975); Badan khát (trường ca, 1976); Cămpuchia hy vọng (trường ca, 1978); Oran 76 ngọn (trường ca, 1979); Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985); Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985); Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992); Ôi nhớ mưa nguồn (thơ, 1999). Văn xuôi Thu Bồn có 9 tiểu thuyết (có 2 bộ hai tập) và hai tập truyện ngắn:  Chớp trắng (tiểu thuyết, 1970); Hòn đảo chân ren (tiểu thuyết, 1972); Dòng sông tuổi thơ (tiểu thuyết, 1973); Những đám mây màu cánh vạc (tiểu thuyết, 2 tập, 1975); Em bé trong rừng thốt nốt (truyện, 1979); Đỉnh núi (tiểu thuyết, 1980); Mắt bồ câu và rừng phi tiễn (tiểu thuyết, 1986); Vùng pháo sáng (tiểu thuyết, 1986); Cửa ngõ miền Tây (tiểu thuyết, 1986); Em bé vào hang cọp (tiểu thuyết, 2 tập, 1986); Dưới tro (truyện ngắn, 1986).

             Thu Bồn đã được tặng Giải thưởng văn học Hội Nhà văn Á-Phi, 1973, với trường ca Bài ca chim Chrao; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001.

                     Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02-6-2009

Bài của nhà thơ Vũ Quần Phương viết về Thu Bồn

             Nhà thơ Thu Bồn (tên khai sinh là Hà Đức Trọng) sinh năm 1935 tại Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam.

Năm 1965, trường ca Bài ca chim Chơ Rao từ miền Nam gửi ra được in toàn bộ trên báo Văn nghệ, giới thiệu Thu Bồn với độc giả miền Bắc. Trường ca được đón nhận như một thành tựu thơ ca của miền Nam.

Gần 40 năm đã trôi qua, Thu Bồn đã mở rộng sức hút sang nhiều thể loại. Ông có thơ ngắn, tiểu thuyết, nhưng trường ca vẫn là sở trường của ông. Trong đó Bài ca chim Chơ Rao vẫn được coi là thành công có tính định hướng cho phong cách tiêu biểu của ông. Đây là khúc ca lãng mạn ca ngợi lòng yêu tự do, ý chí bất khuất. Cốt truyện đậm màu sắc lãng mạn nhưng tính cách các nhân vật chân thật, hợp lôgich. Thu Bồn sử dụng tiếng hát như một biểu tượng của sức mạnh chân lý. Tiếng hát giúp ông mở rộng không gian trường ca: Từ không khí âm u của mấy dãy xà lim chết chóc ở Tây Nguyên, tiếng hát gợi hình ảnh quê hương miền xuôi, miền ngược. Ngòi bút Thu Bồn vốn phóng khoáng và gợi cảm được dịp tung hoành trong các khung cảnh hoành tráng, hành động, hùng vĩ, kỳ ảo. Hùng và Rin bị giặc thiêu sống trước đồng bào, trước rừng núi Tây Nguyên, Thu Bồn dựng một khung cảnh bi tráng:

   Ùn ùn ngọn lửa cao như núi
Chúng chờ nghe những tiếng rên la
Nhưng lạ lùng thay hai ngọn lửa
Bỗng trầm hùng vang vọng khúc ca

             Và một chi tiết sáng tạo như trong bi kịch Hy Lạp cổ xưa: Khi hai sợi dây trói đã cháy, hai người con Kinh Thượng ấy:

Hai ngọn lửa đuốc rùng rùng tiến lại
Hai vòng tay lửa gắn vào nhau

              Thu Bồn có sức bút mạnh mẽ. Ông viết nhanh, viết nhiều, chất lượng khá đều. Ông hay trở lại với đề tài Tây Nguyên, vùng đất đánh thức trí tưởng tượng của ông từ tuổi bé thơ, khi bỏ cả ngày xuống chợ Thanh Quýt để xem người Thượng cưỡi voi về mua bán. Trong kháng chiến chống Pháp, ông sống với đồng bào Tây Nguyên, xúc động trước bao tấm gương hy sinh cao cả của đồng bào. Ông sử dụng nhuần nhuyễn các chất liệu Tây Nguyên, hơn thế ông kỳ ảo hóa, tạo thêm sức mê đắm hoang dại và thần kỳ. Những cuộc săn thú săn người trong Ba Dan khát kỳ lạ và lôi cuốn. Đất nước Campuchia hiền hòa tương phản gay gắt với hành động diệt chủng man rợ, quái đản của bọn Pôn Pốt. Chỗ xung đột gay gắt là chỗ Thu Bồn thường cất lên những cảm xúc mạnh mẽ, xây dựng các hình tượng có tầm vóc. Ông lựa chi tiết đặc tả rất có thần. Thủ đô Phnôm Pênh trong nạn diệt chủng:

Những con chuột ăn gót chân người sống
Những con mèo hoang bị chuột tha đi

              Nét hùng vĩ của cảnh và người Tây Nguyên được hình tượng hóa:

Quê hương lạnh đắp chăn bằng lửa
Con đại bàng nhắm mắt ngủ trong mây

               Cảnh chủ làng săn đuổi đôi trai gái (Ba Dan khát): dòng sông quặn lại/ Mặt trời đau mờ mịt dưới lòng sâu . Cảnh bà mẹ Chàm có đứa con bị giết đi tìm giết mẹ tên giết người. Những hành động bất ngờ của những tính cách mạnh mẽ giàu chất lãng mạn và giàu chất thơ mang tính nhân dân.

Ở những bài thơ ngắn, Thu Bồn cũng viết bằng hơi trường ca. Không được kể chuyện thì ông dùng tình và tứ để biểu hiện. Trong những năm chiến tranh, Thu Bồn muốn mang thơ góp vào công tác tuyên truyền cổ võ chiến đấu, mỗi sự tích ông đều biến thành một đề tài. Cảm xúc và cả ý tưởng đều không theo kịp.

Thu Bồn giờ đây đã vào tuổi bảy mươi. Những năm gần đây, thơ ông hướng về khám phá nội tâm, đúng hơn là chiêm nghiệm lại tháng ngày ông đã sống. Ông nhớ một miền quê thơ ấu, cái làng Phú Thạch, thị xã Tuy Hòa, những lam lũ vất vả một thời xưa. Ông nhớ Hà Nội, Nơi không xa cách được mà mình xa cách rồi. Ông nhớ mùa đông xứ Bắc áo bông rộng thênh thang những năm tập kết. Ông nhớ Những con người đi qua đời tôi chẳng bao giờ gặp lại. Ông phát hiện những lẽ đời sâu nặng trong những việc thường ngày. Đôi lúc thoáng qua cảm giác chua chát trước biến động của cuộc sống hôm nay. Ông chia sẻ và cảm thông sâu sắc với người nông dân sương nắng tự bao đời mà hôm nay vẫn còn sương nắng Ngày úp mặt xuống cánh đồng/ Đêm úp mặt lên hai cánh tay. Ông cảm nghe cuộc đời trôi nhanh, hoài bão ước mơ còn đầy ắp mà năm tháng cạn dần tới đáy. Thơ ông thâm trầm hơn nhưng vẫn đầy phóng khoáng.

Bài của Trần Đăng viết về Thu Bồn

Sau khi nhà thơ Thu Bồn qua đời được ba hôm, nhà văn Nguyễn Chí Trung – tác giả “Bức thư làng Mực” – một trong những người bạn thân thiết của nhà thơ đã lục trong chồng bản thảo bừa bộn của ông và phát hiện hàng trăm di cảo thơ Thu Bồn chưa từng công bố, trong đó có câu: “Về đi em chợ chiều đã vãn/ Hãy mua cho anh một gói nhân tình”. Nhà văn Nguyễn Chí Trung cho rằng đó là lời trăng trối cuối cùng của bạn. Ông gọi điện thoại đến khắp bạn bè trong Nam ngoài Bắc để nhờ giải mã giùm ông cái “gói nhân tình” nọ là gói gì?

Trong một buổi đàm đạo văn chương tại TP.HCM, Nguyễn Chí Trung lại nhắc đến cái “gói nhân tình” nọ và một thanh niên người Quảng Nam đã góp ý cho nhà văn: “Cháu nghĩ, cái “gói nhân tình” mà Thu Bồn muốn chúng ta gửi cho ông làm hành trang về với cõi hư vô, chắc là một nắm đất ở ngay giữa chợ quê ông”. Anh thanh niên lý giải: “Chợ là cái nơi đã lưu dấu chân của triệu triệu người. Nắm đất được hàng triệu bước chân đặt lên ấy là đất của nhân dân”. Nhà văn Nguyễn Chí Trung cho rằng đó là một sáng ý. Một bạn văn khác góp ý thêm: “Nếu cái “gói nhân tình” lấy từ quê Thu Bồn là một nắm đất giữa chợ thì ở những vùng đất mà nhà thơ đã từng gắn bó, “gói nhân tình” sẽ là những hiện vật tiêu biểu cho vùng đất ấy”.

Sau buổi đàm đạo nọ, Nguyễn Chí Trung đã gọi điện thoại cho bạn bè khắp trong Nam ngoài Bắc, những nơi từng lưu giữ dấu chân của Thu Bồn để các bạn văn của nhà thơ gửi “gói nhân tình” cho ông. Ba ngày sau, Nguyễn Chí Trung đã nhận được một nắm đất giữa chợ Thanh Quýt – Quảng Nam, do những người dân quê Thu Bồn gửi vào; nhận một “chén ngọc” của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từ Huế kèm với câu thơ “Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu” (thơ Thu Bồn); nhận một thanh quế từ vùng rừng Trà Bồng và một gói muối từ vùng biển Sa Huỳnh – Quảng Ngãi do nhà thơ Thanh Thảo gửi kèm câu thơ của Thu Bồn: “Muối biển trọn đời vẫn mặn anh ơi/ Mãi nhớ anh nhớ con thuyền gội sóng/ Một cánh buồm con mỏng mảnh giữa chân trời“; nhận một nắm đất đỏ từ Tây Nguyên với trường ca “Bazan khát”…

Sau 10 ngày “quyên góp”, những người yêu thơ và bạn bè Thu Bồn đã gửi cho ông đến 60 hiện vật từ nhiều vùng quê khác nhau. Mỗi hiện vật lại kèm theo một câu thơ tiêu biểu của Thu Bồn đã từng viết về vùng đất ấy. Nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng đã tình nguyện xây cạnh mộ Thu Bồn một bảo tàng mi ni để lưu giữ tất cả những hiện vật đó.

Tôi đã hóng hớt và ghi lại câu chuyện trên từ một cuộc trà dư tửu hậu của anh em văn nghệ tại Quảng Ngãi. Một người bạn của Thu Bồn nói rằng, đây là lần đầu tiên, đồ tùy táng dành cho người quá cố lại là những hiện vật không giống với bất cứ một thứ đồ tùy táng nào, kể cả đồ tùy táng dành cho vua. Đó là một hạnh phúc mà chỉ ở những nhà thơ lớn mới có được. Một bạn văn khác góp thêm: “Nếu mà gửi được cho Thu Bồn thì gửi thêm hình bóng của những người đàn bà đã từng đi qua đời ông. Chính họ đã giúp cho Thu Bồn có được những bài thơ tình bất tử. Gửi được hình bóng của họ cho nhà thơ thì cái “gói nhân tình” kia mới đầy đủ được!”.

Chắc là những bạn văn của Thu Bồn trên khắp đất nước sẽ đồng ý với lời đề nghị này?