Trang chủ > bài viết > Ngũ Phụng Tề Phi, Tứ Kiệt, Tứ Hổ

Ngũ Phụng Tề Phi, Tứ Kiệt, Tứ Hổ

11/01/2012

Ngũ Phụng Tề Phi

Ngũ Phụng Tề Phi nghĩa là năm con chim phượng cùng bay lên là danh hiệu do vua Thành Thái phong tặng cho năm vị đại khoa đồng hương tỉnh Quảng Nam và đồng khoa cùng đỗ trong một khoa thi năm 1898, một điều hy hữu xưa nay chưa từng có tại ViệtNam.

Năm tân đại khoa đồng hương và đồng khoa được xếp theo thứ tự như sau: 


Ông Phạm Tuấn :
Tiến sĩ đệ nhị giáp, người lớn tuổi nhất, cử nhân xuất thân,

Vốn tên Phạm Tấn, sau đổi thành Phạm Trọng Tuấn, rồi Phạm Tuấn. Tự là Hỷ Thần. Hiệu là Văn Luân. Sinh năm Nhâm Tý 1852. Người làng Xuân Đài, tổng Phú Khương Thượng, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn; nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn. Năm Mậu Dần 1878, niên hiệu Tự Đức XXXI, đỗ tú tài và năm kế tiếp đỗ cử nhân. 

Theo Khoa bảng Quảng Nam dưới thời nhà Nguyễn (sđd), từ năm Ất Dậu 1885, Phạm Tuấn đã ra Huế thi Hội rồi thi Đình đều trúng cách, song chưa kịp truyền lô (lễ tuyên chỉ của hoàng đế chính thức công nhận học vị) thì xảy ra sự biến thất thủ kinh đô và vua Hàm Nghi xuất bôn. Chiếu luật lệ, kết quả thi khoa ấy bị huỷ. Phạm Tuấn lĩnh chức bang tá phủ Điện Bàn, rồi được bổ làm huấn đạo Quế Sơn quyền nhiếp tri huyện Hà Đông (Tam Kỳ), đến năm Bính Thân 1898 thì làm giáo thụ phủ Thăng Bình ở tỉnh nhà. Cũng theo sách vừa dẫn, năm Mậu Tuất 1898, Phạm Tuấn dự thi Hội lần thứ nhì (?) và đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân nên bà con gọi “ông nghè nhị khoa tiến sĩ”. Bấy giờ, Phạm Tuấn đã 46 tuổi, hơn Phạm Liễu và Phan Quang những 21 tuổi. Như thế nghiã là ông Phạm Tuấn 2 lần đổ tiến sĩ 2 khoa thi hội cách nhau 10 năm, 1889-1898. 

Năm Kỷ Hợi 1899, Phạm Tuấn được bổ làm thừa biện bộ Lễ. Năm Nhâm Thân 1902, làm thị giảng học sĩ. Năm Mậu Thân 1908, làm đốc học Hà Tĩnh, hàm Quang lộc tự thiếu khanh. Năm Quý Sửu 1913, về hưu, được thăng hàm Hồng lô tự khanh. Năm Tân Tị 1917, tạ thế tại quê nhà.

Ông Phạm Liệu: 

Tiến sĩ đệ nhị giáp, người nhỏ tuổi nhất.

Tự là Tăng Phố và Sư Giám. Sinh năm Quý Dậu 1873. Người làng Trừng Giang, tổng Hoà Đa Thượng, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn; nay thuộc xã Điện Trung, huyện Điện Bàn. Năm Giáp Ngọ 1894, thi đỗ cử nhân. Năm Mậu Tuất 1898, đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân và lưu lại Huế học tiếng Pháp tại Tứ Dịch quán. Năm Tân Sửu 1901, được bổ làm tri huyện Đông Sơn rồi tri phủ Nga Sơn ở Thanh Hoá. Năm Ất Tị 1905, làm chủ sự bộ Hình rồi chủ sự Quốc sử quán ở kinh đô. Năm Mậu Thân 1908, niên hiệu Duy Tân thứ II, làm tri huyện Phù Cát ở Bình Định. Năm Nhâm Tý 1912, làm viên ngoại phụ chánh Cơ mật viện, hàm Quang lộc tự thiếu khanh. Khoa thi TS năm Quý Sửu 1913, làm quan duyệt quyển (1) cùng với Nguyễn Thiện Hành – biện lý bộ Học. Hai năm sau, được thăng hàm Hồng lô tự khanh, làm phó chủ khảo trường thi Hương tại Nghệ An. Trải qua nhiều chức trọng quyền cao nơi triều chính, như tham tri bộ Công và tham tri bộ Lại, đến năm Kỷ Tị 1929 còn được bổ làm thượng thư bộ Binh.

     Năm Quý Dậu 1833, vua Bảo Đại cải tổ nội các, bãi nhiệm cùng lúc 5 thượng thư, gồm: Phạm Liệu – bộ Binh; Nguyễn Hữu Bài – bộ Lại; Tôn Thất Đàn – bộ Hình; Võ Liêm – bộ Lễ; Vương Tứ Đại – bộ Công. Sự việc đó thường được dân chúng truyền tụng qua bài thơ thất ngôn bát cú của Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn (1897 – 1947):
           Năm trụ khi không rớt cái ình!
Đất bằng sóng dậy xứ Thần Kinh.
Bài không đeo nữa, xin dâng Lại,
Đàn nỏ ai nghe, khéo dở Hình.
Liệu thế không xong Binh chẳng được,
Liêm đành giữ tiếng Lễ đừng rinh.
Công danh thôi thế là hưu hĩ,
Đại sự xin nhường lớp hậu sinh.

     Phạm Liệu về hưu tại quê nhà và mất ngày 21-11-1936 (Bính Tý). Sách Khoa bảng Quảng Nam dưới thời nhà Nguyễn do Phạm Ngô Minh và Trương Duy Hy hợp soạn (NXB Đà Nẵng, 1995) ghi thời điểm TS Phạm Liệu lìa trần đúng ngày tháng vừa kể, nhưng lùi lại một năm: 1937 (Đinh Sửu).

     Một trong những người con của TS Phạm Liệu là nhà thơ tài hoa bạc mệnh Phạm Hầu (1920 – 1944) từng được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong tập Thi nhân Việt Nam rằng: “Ở giữa đời, Phạm Hầu là một cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi”.

Ông Phan Quang: 
Tiến sĩ đệ tam giáp,quê quán làng Bàng Lãnh, tổng Phú Khương Thượng (Gò-Nổi Phù Kỳ), phủ Ðiện Bàn, trú quán làng Phước Sơn, huyện Quế Sơn. 

  Tự là Quế Nam. Sinh năm Quý Dậu 1873. Là bạn đồng niên, đồng môn, đồng song, đồng khoa với TS Phạm Liệu: cùng học trường Đốc tại Quảng Nam, cùng đỗ cử nhân năm Giáp Ngọ 1894 tại trường thi Thừa Thiên, cùng đỗ đệ tam giáp đồng TS xuất thân năm Mậu Tuất 1898 rồi cùng lưu lại Huế luyện Pháp văn tại Tứ Dịch quán. Năm Tân Sửu 1901, được bổ làm tri huyện Lệ Thuỷ rồi tri huyện Bố Trạch ở Quảng Bình. Sau nhiều năm làm quan luân chuyển qua các địa phương duyên hải miền Trung, đến năm Bính Dần 1926 được điều về kinh đô làm thị lang rồi tham tri bộ Hình. Ấy là lúc Bảo Đại vừa lên ngôi. Năm Canh Ngọ 1930, về hưu. Năm Kỷ Mão 1939, mất tại quê nhà.
     TS Phan Quang có 7 anh chị em ruột thì 4 anh em trai đều thuộc nòi thi thư: anh là tú tài Phan Xáng, em là tú tài Pham Ấm và cử nhân Phan Vĩnh. 
     Con trai của TS Phan Quang có nhà giáo kiêm nhà sử học Phan Khoang (1906-1972)và nhà báo kiêm nhà văn Phan Du (1915 – 1983). Nhà sử học Phan Khoang là tác giả các sách “Việt Nam Pháp Thuộc Sử”, “Trung Quốc Sử Lược” v.v… Sau cuộc đảo chính ngày 11–11–1960 của Đại tá Nguyễn Chánh Thi ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm giam tại trại giam bí mật P42 trong Sở Thú – một nhà giam tàn bạo nhất chỉ dành riêng để giam cầm tra khảo người quốc gia đối lập quan trọng như trại Chín Hầm của Ngô Đình Cẩn ở Huế.(Lê Văn Thông). 

Ông Dương Hiển Tiến: 
 Sinh năm Bính Dần 1866. Người làng Cẩm Lậu (còn gọi Cẩm Lũ), tổng Thanh Quýt, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn; nay thuộc xã Điện Phong, huyện Điện Bàn. Năm Tân Mão 1891, đỗ cử nhân. Năm Mậu Tuất 1898, đỗ PB. Năm 1907, Dương Hiển Tiến lâm bệnh thương hàn và mất ở quê nhà.

Ông Ngô Lý ( Tức Ngô Chuân) : 
Còn gọi Ngô Chuân, Ngô Trân và Ngô Lý. Chào đời năm Quý Dậu 1873. Quê làng Mông Lãnh, tổng Phú Xuân, huyện Quế Sơn, phủ Thăng Bình. Do gia cảnh bần hàn, cha lại mất sớm, nên phải cùng thân mẫu qua ngụ cư làng Cẩm Sa, tổng Thanh Quýt, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn; nay thuộc xã Điện Nam, huyện Điện Bàn. 

     Năm Giáp Ngọ 1894, đỗ cử nhân. Năm Mậu Tuất 1898, đỗ PB. Kế đó, được bổ làm tri huyện Thạch Hà ở Hà Tĩnh. Thế nhưng, chẳng may lâm trọng bệnh, Ngô Truân yểu tử lúc đương chức vào năm Kỷ Hợi 1899. Trong tập I Những con chim phụng đất Quảng (Hội Khuyến học Quảng Nam – Đà Nẵng ấn hành, 1992), nhà giáo ưu tú Huỳnh Trảng viết rằng Ngô Truân nguyên là học trò của hoàng giáp Phạm Như Xương (1844 – 1917) và Ngô Truân mất khi làm tri huyện Can Lộc ở Hà Tĩnh, được nha môn tẩm liệm tử tế, đoạn tức tốc đưa về làng Cẩm Sa để mai táng.

    Phó bảng Ngô Chuân (tức Ngô Lý) xem ra là người “lặng lẽ” hơn cả. Có khá ít tư liệu nhắc đến cụ. Ông Lý Quốc Sum, người gọi cụ Ngô là cố ngoại, kể thêm rằng, sau khi “Ngũ phụng tề phi” vinh quy, có tộc lớn trong làng cho rằng tộc Ngô là “tộc lẻ” (tộc nhỏ, nơi khác đến) mà đỗ đạt cao nên nảy sinh đố kỵ. Cụ lâm bệnh chết khi đang làm quan ở Huế, thi hài sau đưa về làng. Nhưng rốt cuộc, mộ của cha con cụ buộc phải dời đến một nơi khác trong làng Cẩm Sa. Mãi đến năm 2000, chính quyền xã Điện Nam(nay là Điện Nam Bắc, Điện Bàn) cùng gia đình viết đơn đề nghị hỗ trợ kinh phí trùng tu mộ cụ Ngô Chuân – một nấm mộ nhỏ chưa đến 10m2
Cho tới nay truyền thống hiếu học của người QuảngNam vẫn còn rất đáng nể !

            Thật ra, đất Quảng Nam xưa còn có Thập Ngũ Phụng Tề Phi trong khoa thi Hương năm 1900 (Canh Tý) có 32 thí sinh đỗ cử nhân trong đó, người Quảng Nam chiếm hết 15 người mà thủ khoa là Huỳnh Thúc Kháng.

  Ngoài ra, đất Quảng Nam còn có TỨ KIỆT và TỨ HỔ

            1._ Khoa Tân Sửu (1901) 4 vị đỗ Phó bảng đồng khoa và đồng hương là ông Nguyễn Ðình Hiến (Trung Lộc,Quế Sơn), Ông Nguyễn Mậu Hoán (Phú Cốc,Quế Sơn), Ông Võ Vỹ (An phước,Thăng Bình), Ông Phan Châu Trinh (Tây Lộc,Tiên Phước) mà dân gian thường mệnh danh là ” TỨ KIỆT ” 

            2._ Trong 4 khoa thi Hương liên tiếp là khoa Ðinh Dậu (1897), khoa Canh Tý (1900), khoa Ất Mão (1903), khoa Mậu Ngọ (1906), có 4 vị đỗ thủ khoa là: ông Phạm Liệu (Trừng Giang, Ðiện Bàn), ông Võ Hoành (Long Phước, Duy Xuyên ), ông Nguyễn Ðình Hiến (Trung Lộc,Quế Sơn ), ông Huỳnh Hanh tức Huỳnh Thúc Kháng (Thanh Bình,Tiên Phước) mà dân gian thường mệnh danh là ” TỨ HỔ “. Như vậy: 

            * Ông Phạm Liệu vừa là “Ngũ Phụng Tề Phi” vừa là ” Tứ Hổ “. 

* Ông Nguyễn Ðình Hiến vừa là ” Tứ Kiệt ” vừa là ” Tứ Hổ “.

CẢNH ÐÓN RƯỚC NGŨ PHỤNG TRONG NGÀY VINH QUY:

Khi Tổng Ðốc Ðào Tấn nhận được tin Quảng Nam có 5 vị đỗ đại khoa, thì cùng lúc đó “…Có một vị lão thành biết được, liền loan truyền cho mọi người hay. Và nhân dân Quảng Nam trong niềm hãnh diện chung đã lũ lượt đi từ Vĩng Ðiện đến chân Hải Vân quan để chào mừng 5 vị tân khoa Ngũ Phụng Tề Phi…” (theo Dây Quảng Nam của Vũ Lang NXB Thời Mới – Ðà Nẵng 1973).

Dọc hai bên đường từ đèo Hải Vân đến Vĩng Ðiện, hương lý sức dân quét dọn sạch sẽ. Mỗi làng đều có đặt một bàn hương án bên vệ đường (trong địa phận làng mình, nơi các tân khoa đi ngang qua). Vị chức sắc cao nhất trong làng, trang phục chỉnh tề, áo rộng, khăn đóng, cùng thân hào nhân sĩ trong làng chuẩn bị sẵn sàng để nghinh đón.

Các vị tân khoa đi ngựa sau 4 chữ Ân Tứ Vinh Quy của vua ban (Nhà thờ cụ Phan Quang ở Quế Sơn hiện còn giữ quý vật nầy). Mỗi lần đến nơi có bàn hương án thì xuống ngựa, đón nhận sự vái chào và chào trả lễ của hương chức sở tại. Xong, được mời ăn một miếng trầu cau hoặc hút một điếu thuốc, uống một chén rượu mừng…Ðôi bên bày tỏ niềm hân hoan về kết quả kỳ thi…rồi lại lên ngựa, từ từ tiến về Vĩnh Ðiện (Theo tư liệu của cụ Phạm Phú Hưu).

NHỮNG VỊ NÀO TRONG “NGŨ PHỤNG” KHÔNG DỰ BỮA TIỆC KHOẢN ÐÃI CỦA TỔNG ÐỐC VÀ ÐỐC HỌC QUẢNG NAM HỒI ẤY?

Thời bấy giờ chưa có cầu Vĩnh Ðiện. Ðám rước được nhân dân đưa qua sông bằng ghe. Lúc lên bờ phía Vĩng Ðiện – một trong năm con Phụng, cụ Ngô Chuân, nguyên nhà rất nghèo, ngụ cư tại Cẩnm Sa. Cụ xúc động mạnh trước cuộc đón rước quá long trọng của nhân dân trong tỉnh dành cho cụ và các bạn đồng khóa, mà cụ không sao dám mơ tuởng đến! Lúc lên bờ, không hiểu sao,cụ rời đám rước, một mạch chạy bộ về Cẩm Sa!…Do đó, tại bữa tiệc trong dinh Tổng đốc QuảngNam vắng mặt cụ Chuân!

 BA BÀI THƠ “TỨ TUYỆT” CỤ ÐÀO TẤN ỨNG KHẨU TẠI BỮA TIỆC ÐÃI CÁC VỊ ÐẠI KHOA MẬU TUẤT 1898 TẠI DINH TỔNG ÐỐC QUẢNG NAM ÐỂ TẶNG AI?

Quan niệm của những vị Nho học ngày trước thì thi cử đạt học vị cao, xã hội phải kính nể, trọng vọng. Mà thật vậy, những vị đỗ từ Ðệ tam giáp trở lên “…Ðược vua ban áo mão, cỡi ngựa xem hoa trong vườn Ngự Uyển và dự Yến (Các vị phó bảng chỉ được áo mão chứ không được dự Yến vả cởi ngựa xem hoa, để ngắm những tà áo tím của cung phi mỹ nữ yêu kiều…). Tiến sĩ họ Ðào, hình dung ba tiến sĩ tốt số như ba tiên ông, đang ngự du nguyệt điện, chuyện vãn với Hằng nga, ngâm thơ chuốc rượu, còn hai phó bảng không được nhập điện, thì như hai chú tiểu đồng, đứng ngoài trông vào, thèm thuồng ham muốn, trộm lấy bút mực vẽ bóng chị Hằng Nga để khuây lòng hoài vọng. Ông tặng hai phó bảng một bài thơ hài hước…” (theo giai thoại văn chương trang 21-Trần Gia Thoại- nhà in Kim Ngọc Sàigòn 1957) (3). 

Có lẽ cụ Ðào cũng nghĩ như thế nên cụ xuất khẩu ba bài thơ tứ tuyệt để tặng năm vị đại đăng khoa này.

Bài thứ nhất tặng Cụ Phạm Liệu 

Nguyên tác:

Chiết quế nhơn tùng nguyệt điện lai
Ðình bôi vị vấn thiếu niên tài
Khán ba mã qua song kiều lộ (4)
Thùy thị Nam chi (5) đệ nhất mai
Bản dịch (Cụ Trần Gia Thoại):
Bẻ quế cung trăng ấy mới tài
Nâng ly thử hỏi khách là ai?
Xem hoa cỡi ngựa qua cầu kép
Là cánh hoa Nam đệ nhất mai

Bài thứ hai tặng Cụ Phan Quang và Phạm Tuấn.

Nguyên tác:

Vận hội tuần hoàn ngũ thập niên
Thứ ban (6) tương kế xuất danh hiền
Trúc Ba nhơn khứ Hà Ba tại(7)
Nhụy bảng do truyền Giáp Ất niên

Bản dịch:

Cơ trời mấy chục năm qua
Cõi Nam liên tiếp sinh hoa ngạt ngào
Trúc tàn Hà nở thơm sao
Bảng đề Giáp Ất ai nào dám tranh
.

Bài thứ ba tặng Cụ Ngô Chuân và Dương Hiển Tiến:

Nguyên tác:

Giang sơn thanh thục dị tài ba
Tam quế tề khai nhất dạng ba
Cánh hữu Quảng Hàm cung đợi khách
Du tương thể tà Hằng Nga

Bản dịch:

Non sông hun đúc lắm tài hoa
Một loạt ba bông nĩ đậm đà
Cung Quảng ngoài hiên còn khách đợi
Trộm đem bút mực tả Hằng Nga

 Ý KIẾN CỦA CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG VỀ KHOA THI MẬU TUẤT THÀNH THÁI 10 -1898- TỨC KHOA” NGŨ PHỤNG TỀ PHI QUẢNG NAM”. 

Khi làm báo Tiếng Dân tại Huế, (báo này được tồn tại từ năm 1927 đến 1943 do cụHuỳnh Thúc Kháng chủ trương)- theo tư liệu của Cụ Nguyễn Xương Thái, Thưký báo Tiếng Dân hồi đó- có lần Cụ Huỳnh viết bài báo phàn nàn về sự bất công của khảo quan trong khoa thi Mậu Tuất(1898) với nội dung như sau:”… Khoa Mậu Tuất 1898( tức khoa Ngũ Phụng) có 10 danh nho, quan của triew62u đình xung vào làm Hội Ðồng Giám Khảo. Trong số đó, hết 8 vị là người Quảng Nam. Lúc ráp phách, Hội Ðồng ngạc nhên thấy 5 sĩ tử đạt điểm chuẩn Tiến sĩ đều là sĩ tử Quảng Nam! Bấy giờ, Cụ Hà Ðình Nguyễn Thuật quê Hà Lam thuộc phủ Thanh Bình, tỉnh Quảng Nam là một hành viên của Hội đồng đề nghị: Chỉ nên lấy 3 tiến sĩ, 2 phó bảng chứ không nên cho đỗ một lúc 5 tiến sĩ như thế, vì cho sĩ tử Quảng Nam đỗ nhiều tất không tránh tai tiếng với người trong nước rằng, khoa nầy, đa số là người Quảng Nam chấm thi, nên đã chấm nới tay cho học trò Quảng Nam đỗ cao và đỗ nhiều! Ấy vậy mà Hội đồng cũng nghe theo.

Nếu công bình mà xét thì hồi đó Quảng Nam có 5 vị tiến sĩ…”

Kết hợp với sự kiện cụ Tổng Ðốc và Ðốc học Quảng Nam khen tặng cho 5 vị tân khoa Mậu Tuất của Quảng Nam lúc bấy giờ là “Ngũ Phụng Tề Phi”, thì rõ ràng cả hai cụ Ðào-Trần cũng đã xác nhận đó là 5 con phụng hoàng của Quảng Nam, tức cả 5 vị đều là tiến sĩ.

Niềm hân hoan và hãnh diện của “Ngũ Phụng” và nhân dân Quảng Nam trước thành tựu khoa cử là ở cái đất địa linh nầy quả đã sinh được nhân kiệt. Nhưng theo nhận xét của cụHuỳnh, chỉ tiếc một điều là năm con phụng hoàng Quảng Nam không lưu lại cho hậu thế một công trình nào về mặt văn học, ngoài cảnh huy hoàng nhất thời! Nên ngày cụ Liệu qua đời, cụHuỳnh đã phúng điếu một câu đối, mà nay còn được lưu truyền:

Văn tự quả hữu túc duyên đa, ấu nhi tĩnh tường nghệ chiến, lão nhi kinh đệ minh đàm, trừ trung gian quốc sự dịch kỳ trần lộ sâm thương dư nẫm tái.

Hà sơn do thụy giai khí giả, cựu tắc Hán học thành tinh, tân tắc Âu khoa nhược trí, thứng vãn tấn châu bình nguyệt đán khẩu bi danh tánh mỗi song đề“.
Diễn ý:

Văn chương chữ nghĩa có đầy duyên tứ trước vậy. Lúc nhỏ học trường tỉnh, ganh đua nghiệp văn. Khi già ở nhà khách tại kinh đô đàm luận. Ngoài việc biến đổi quốc sự, thì đường trần ai (tôi và ông) xa cách nhau hơn 20 năm.

Sông núi do tú khí tạo nên, Hán học tinh thông, Tây học còn non yếu. Mỗi tháng cùng bạn văn chương bình thời sự. Danh tánh đều được bia đá bia miệng lưu truyền.
Ngày nay , Ngũ phụng Tề Phi là tấm gương hiếu học, học giỏi, đổ cao của những người con Quảng Nam, mà hầu hết có đức tính kiên trì theo đường học vấn, trong hoàn cảnh gia đình khó khăn, để cuối cùng đạt được học vị cao trọng trong xã hội mà thôi.

Nổi chìm “Ngũ phụng tề phi” 

 

Hẩm hiu mộ người số 1

Khoa thi năm Mậu Tuất 1898 đã khắc một dấu vết quan trọng trong lịch sử khoa bảng ViệtNam. Cả 5 vị đại khoa đều sinh quán Quảng Nam, gồm 3 tiến sĩ (Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn) và 2 phó bảng (Dương Hiển Tiến, Ngô Chuân). Nhưng hành trang sau này của mỗi vị quả thực rất khác nhau. Đặc biệt với cụ Phạm Liệu, người đỗ tiến sĩ năm 25 tuổi và từng được xem là một trong ba người thông minh, hay chữ nhất kinh đô Huế những năm 1891-1894.

Một vài nhà nghiên cứu khẳng định, khi làm Án sát ở Quảng Ngãi, chính Phạm Liệu lại là người phát giác đầu mối cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916, đưa đến cuộc thảm sát hàng loạt nhà cách mạng như Trần Cao Vân, Thái Phiên…

Đến năm 1933, nội các do Nguyễn Hữu Bài đứng đầu đã phải từ chức tập thể, khi đó Phạm Liệu giữ chức Thượng thư bộ Binh.

Vị đại khoa thứ 5, Phó bảng Ngô Chuân (tức Ngô Lý) xem ra là người “lặng lẽ” hơn cả. Có khá ít tư liệu nhắc đến cụ. Ông Lý Quốc Sum, người gọi cụ Ngô là cố ngoại, kể thêm rằng, sau khi “Ngũ phụng tề phi” vinh quy, có tộc lớn trong làng cho rằng tộc Ngô là “tộc lẻ” (tộc nhỏ, nơi khác đến) mà đỗ đạt cao nên nảy sinh đố kỵ. Cụ lâm bệnh chết khi đang làm quan ở Huế, thi hài sau đưa về làng. Nhưng rốt cuộc, mộ của cha con cụ buộc phải dời đến một nơi khác trong làng Cẩm Sa. Mãi đến năm 2000, chính quyền xã Điện Nam(nay là Điện Nam Bắc, Điện Bàn) cùng gia đình viết đơn đề nghị hỗ trợ kinh phí trùng tu mộ cụ Ngô Chuân – một nấm mộ nhỏ chưa đến 10m2.

Phải chăng những biến cố lịch sử và chính trị này đã làm “mờ” đi phần nào nhân vật số một của “Ngũ phụng tề phi”? Những người chép sử về xứ Quảng lâu nay dường như cũng ít muốn nhắc đến. Trong cuốnChí sĩ Trần Cao Vân (NXB Đà Nẵng 1999) do Trần Trúc Tâm sưu tầm, biên soạn, tác giả – người gọi cụ Trần Cao Vân là cố – đã có những lời phê nặng nề: “Phạm Liệu – một tiến sĩ đứng đầu “Ngũ phụng tề phi” của đất Quảng Nam, nỡ đem tài học vấn của mình giúp cho chính quyền bảo hộ khám phá bí mật của công cuộc khởi nghĩa Duy Tân 1916″. Đây hẳn là nỗi đau lớn đối với con cháu cụ Phạm.

Chúng tôi gặp đôi chút khó khăn khi viếng mộ cụ Phạm Liệu ở Điện Trung (huyện Điện Bàn). Quá ít người biết về nơi yên nghỉ của cụ. Đấy là ngôi mộ không lớn do gia đình xây năm 1997, tương đối vững chãi, nằm khuất trong vùng trồng bắp khá vắng vẻ, cạnh một nghĩa địa nhỏ. Bia ghi dòng chữ “Phạm Liệu, tự Sư Giám, hiệu Tang Phố, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1898)”. Và chỉ có hai chữ “ngũ phụng” tiếp bên dưới mà bỏ sót hai chữ “tề phi”, không hiểu có ngụ ý gì.

Danh thơm và hậu vận

Nhưng thế hệ trẻ nếu có tâm nguyện được biết tường tận nơi chốn các bậc đại khoa ấy đang yên nghỉ, phải tìm đến nơi đâu?

Trên cánh đồng Xuân Đài (xã Điện Trung, huyện Điện Bàn), mộ tiến sĩ Phạm Tuấn nằm giữa một vuông đất nổi lên trông khá lẻ loi, chỉ cách mộ cụ Hoàng Diệu chừng vài trăm mét. Cụ Phạm Tuấn (1852-1917) làm đến Thừa biện bộ Lễ, sau mất tại làng. Những năm 1972-1973, mộ ở gần sông Thu Bồn, gia tộc sợ bị nước cuốn trôi đã cải táng về Cồn Nô. Sau năm 1975, mộ cụ lại cải táng lần nữa khá trang trọng về quê cũ với diện tích khoảng 160m2… Nhưng khu mộ này hiện đang bị “vây khốn” bởi bốn bề lúa và cỏ voi, lối đi vào chỉ bằng bàn chân men theo bờ ruộng rồi hẹp dần. Bên dưới cổng tam quan cao lớn có dòng chữ “Ngũ phụng tề phi” lại đang bị chân ruộng lúa lấn sát. Sau mùa lụt 2007, dãy tường phía sau đổ sập, bia ghi công trạng bị vỡ ngổn ngang. Phòng VH-TT huyện Điện Bàn từng đề nghị địa phương mở con đường rộng 1 mét dẫn vào mộ, đã một năm rồi mà vẫn chưa thấy động tĩnh. Thật khó hình dung đây là một di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.


Mộ cụ Phan Quang, tiến sĩ thứ ba trong “ngũ phụng”, hiện tọa lạc tại thôn 4, xã Quế Châu (huyện Quế Sơn). Cụ Phan có hoạn lộ suôn sẻ, làm đến chức Tham tri bộ Hình, về hưu được tặng hàm Lễ bộ Thượng thư. Mộ phần do con cháu dòng tộc trùng tu chừng 10 năm trước trên diện tích xấp xỉ 80m2

Nếu mộ cụ Phan táng trên một gò cao thoáng đãng, thì ở thôn Cẩm Phú 1, xã Điện Phong (huyện Điện Bàn), mộ cụ Phó bảng Dương Hiển Tiến lại chen chúc giữa hàng trăm ngôi mộ san sát nhau của nghĩa địa Cẩm Phú có 16 chi tộc phái. Cụ từng về quê dạy học đến năm 1907 lâm bệnh chết, đồng môn các nơi quy về mai táng. Chiến tranh đã phá hỏng một phần của tấm bia cũ, mãi sau năm 1975 mộ cải táng về đây để lấy đất sản xuất. Đến lần tu bổ năm 2001, mộ cụ nghè Dương hoàn chỉnh theo lối song tam mộ (có hai nấm của cụ bà chánh và thứ), nấm mộ chính hình bát giác đã cũ nhưng trông gần gũi, ấm áp…

Tại dinh Tổng đốc Điện Bàn ngày trước, có bức thục thêu hình năm con chim phụng, 3 con đang bay tượng trưng cho 3 tiến sĩ, 2 con xếp cánh tượng trưng 2 phó bảng. Sắc ban “Ngũ phụng tề phi” của vua Thành Thái ngày nào hiện chỉ còn lưu lại trong tâm thức người dân hiếu học. Với những vị đại khoa ấy, danh thơm không hẳn đã “chia đều” cho tất cả. Họ đã tứ tán trên đường công danh sau một lần “tề phi” (cùng bay), và đến nay càng có nguy cơ mất hút trong sự lãng quên.