Trang chủ > bài viết > CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP QUAN KHÂM NGUYỄN HỮU LỊCH

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP QUAN KHÂM NGUYỄN HỮU LỊCH

11/01/2012

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP QUAN KHÂM  NGUYỄN HỮU LỊCH

 

Như quý vị đã biết, vào năm 1471, phụng lệnh vua Lê Thánh Tôn, Ngài Nguyễn Hữu Dõng cùng bảo huynh là Nguyễn Hữu Cảnh và bào đệ là Nguyễn Hữu Bích từ Hải Dương vào Quảng Nam và xây dựng làng Thanh Quýt. Ngài Nguyễn Hữu Dũng là vị tiên khai Nguyễn Hữu Thanh Quýt ngày nay. Kế từ đời Ngài tiền hiền Nguyễn Hữu Dũng (đời thứ nhất) đến đời thứ 8 cụ Nguyễn Hữu Sao thuộc phái nhất, rời làng Thanh Quýt vào năm 1779 tiến về phía Tây Bắc đến Tổng Phước Tường, huyện Hoà Vang  khai mở làng Khe Lâm và trở thành Tiền hiền làng Khe Lâm và được sắc phong Thần Hiệu Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Chi Thần và là đời thứ 1 của tộc Nguyễn Hữu làng Khe Lâm. Sang đời thứ 2 (tức đời thứ 9 nếu tính từ Ngài Nguyễn Hữu Dõng vào trấn giữ và khai khẩn làng Thanh Quýt), cụ Nguyễn Hữu Sao sinh hạ cụ Nguyễn Hữu Thành, cụ Nguyễn Hữu Thành sinh hạ 6 người con (đời thứ 3)  (tức đời thứ 10) trong đó có 4 người con trai là Nguyễn Hữu Du, Nguyễn Hữu Diệu, Nguyễn Hữu Huệ và Nguyễn Hữu Lịch. Các ông Nguyễn Hữu Du, Nguyễn Hữu Diệu, Nguyễn Hữu Huệ đều có hậu duệ và đến nay đã đến đời thứ 8 ở làng Khe Lâm, nếu kể từ cội nguồn Thanh Quýt đến đời thứ 15. Riêng ông Nguyễn Hữu Lịch, sinh hạ 1 nam là ông Nguyễn Hữu Sinh và 1 nữ là Nguyễn Thị Ân. Ông Nguyễn Hữu Sinh chỉ sinh hạ 1 trai là ông Nguyễn Hữu Dụng rồi vô tự.

 

Ông Nguyễn Hữu Lịch tuy chỉ có trực hệ đến đời nội tôn, nhưng các hậu duệ của tộc Nguyễn Hữu làng Khe Lâm, dù nội hay ngoại đều kế thứa truyền thống tốt đẹp với ông.

Lúc thiếu thời, ở quê làng Khe Lâm không có thầy dạy học, người thiếu niên Nguyễn Hữu Lịch được cha là cụ Nguyễn Hữu Thành ưu tiên, chắt chiu, dồn sức cho ăn học vì trong 6 anh em, Nguyễn Hữu Lịch là sáng dạ, thông minh, chịu khó và tự lực, được cụ Nguyễn Hữu Thành gởi con về làng Thanh Quýt tìm thấy ở huyện Điện  Bàn. Nhưng người con lại xin cha qua sông Tuý Loan để vào Đại Lộc tìm thầy. Ở nhà thầy, trò phụ giúp thầy để được thầy cho học lúc nhàn rỗi. Năm 1864, lúc thanh niên Nguyễn Hữu Lịch tròn 24 tuổi cũng là lúc có khoa thi. Lai kinh ứng thí nhưng lần này không đỗ phải ngậm ngùi trở lại quê nhà miệt mài kinh sử. Bốn năm sau (1968), thanh niên Nguyễn Hữu Lịch lều chổng vượt đèo Hải Vân ra Huế dự thi và đỗ cử nhân khoá Mậu Thìn 1968. Người học trò nghèo hiếu học đã thành danh trở về làng vinh quy bái tổ. Dân làng ra đón, chàng cử nhân Nguyễn Hữu Lịch khiêm tốn xuống kiệu và cùng đi bộ với dân về làng. Sau đó chàng cử nhân Nguyễn Hữu Lịch trở lại kinh đô nhận nhiệm vụ ở bộ binh dưới quyền thượng thư Tôn Thất Thuyết và được thăng chức Lang Trung. Lúc bấy giờ quân Pháp đã xâm chiếm và củng cố lực lượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.

Đến tháng 6 năm 1867 quân Pháp lại chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây, Triều đình nhà Nguyễn đứng đầu là vua Tự Đức không ra sức đánh giặc mà chỉ lo thương thuyết để chuộc lại các tỉnh đã mất. Thực dân Pháp không thương thuyết mà còn đưa quân ra chiếm Bắc hà và triều đình phải ký các thoả ước có lọi cho Pháp, đó là vào năm 1874. Trong triều đình xuất hiện 2 phái, phái chủ hoà muốn triều đình nhượng bộ nhưng phải chủ chiếm đứng đầu là Thượng thư Tôn Thất Thuyết quyết đánh. Ông tích cực đứng về phái chủ chiến. Giữa lúc đó vua Tự Đức băng hà, triều đình hoang mang và phải ký điều ước Hắc măng công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và cắt 3 tỉnh : Thanh Hoá – Nghệ An và Hà Tĩnh nhập vào Bắc Kỳ. Quân Pháp lấn tới đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2, Hiệp ước Patơnốt ký năm 1884 có điều khoản trả lại 3 tỉnh : Thanh Hoá – Nghệ An và Hà Tĩnh cho Trung kỳ. Nhân cơ hội này, Thượng thư Tôn Thất Thuyết tiến cử Lang trung Nguyễn Hữu Lịch làm khâm sứ Thanh – Nghệ – Tỉnh sung Đổng lý tỉnh Thanh Hoá.

Ra Thanh Hoá quan khâm Nguyễn Hữu Lịch bắt tay thực hiện kế hoạch chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Ông xây dựng nhiều đồn sơn phòng ở miền Tây và 3 tỉnh : Thanh – Nghệ – Tỉnh. Ông lập ra các đội quân “Đoàn Kiệt” và “Phấn Nghĩa” ra sức tập luyện chờ ngày quyết chiến với quân thù.

Đến khi vua Hàm Nghi, vị vua yêu nước rời kinh đô ra Tân Sở xuống hịch Cần vương, Phan Đình Phùng hưởng ứng phất cờ khởi nghĩa ở Hương Khê, Phạm Bành, Đinh Công Tráng khởi nghĩa ở Ba Đình, Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch có nhiều hoạt động bí mật hỗ trợ, Quan Khâm ra sức cổ vũ phong trào yêu nước chống xâm lược ở cả 3 tỉnh Thanh – Nghệ – Tỉnh, hưởng ứng hịch Cần vương của vua Hàm Nghi nhưng phải luôn thận trọng giữ thế với phái chủ hoà trong triều đình. Trước mặt nhận nhiệm vụ của triều đình nhưng đứng sau tích cực hậu thuẫn cho nghĩa quân bằng cách giúp đỡ lương thực và người cho phong trào Cần vương, nhờ đó phong trào phát triển sâu rộng và mạnh mẽ. Ông đã dồn sức giúp đỡ xây dựng căn cứ hậu bị đề phòng rút lui khi cần. Đó là cứ điểm Ba đình giữ vùng chiêm trũng mênh mông, sâu rộng và mạnh mẽ. Ông đã dồn sức giúp đỡ xây dựng căn cứ hậu bị đề phòng rút lui khi cần. Đó là cứ điểm Ba đình giữa vùng chiêm trũng mênh mông, căn cứ sơn phòng Mã Cao trên vùng núi phía Tây – Nam 1887 nghĩa quân Thanh Hoá thất bại ở Ba đình phải rút lên Mã Cao nhưng giặc Pháp cũng bị thiệt hại nặng phải huy động trên 3000 quân kèm pháo binh vây hãm và đánh chiếm Ba Đình. Chúng lên mặt trả thù bằng cách triệt hạ cả 3 làng Mỹ Khê – Thượng Thọ và Mậu Thịnh xoá tên 3 làng này trong bản đồ Nam triều và chúng bắt triều đình hạch tội Đổng lý Nguyễn Hữu Lịch và tuyên án vắng mặt không xét xử, vua Đồng Khánh một vị vui bắt tay với giặc Pháp đã tuyên án Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch “Tam ban trào điển” và xoá tên trên đời. Quan Khâm đã chọn thanh kiếm để tự vẫn trong tư thế hiên ngang không sợ trước kẻ thù. Đó là vào năm 1887 lúc Ngài mới 47 tuổi.

Mộ Ngài Quan Khâm được chôn trong thành nội Thanh Hoá không có bia vì tên đã bị xoá không hương khói, nhưng có người bí mật làm dấu để thông báo cho gia đình.

Chờ đến hết đời Đồng Khánh khi phong trào Cần Vương chấm dứt, tình hình xem yên tĩnh, cụ Nguyễn Hữu Dụng bí mật ra Thanh Hoá bốc hài cốt ông nội mang về quê, đó là năm 1905.

Hài cốt được cẩn thận mang về an táng tại Hố quốc làng Khe Lâm. Mộ chôn cũng không có bia, không xây giữa khu rừng hoang vắng nhưng chỉ sau 1 năm bọn chỉ điểm cùng với quan quân của triều đình về tìm mộ và xiềng mộ Ngài Quan Khâm theo lệnh của vua Thành Thái. Con cháu không ai nhận và cũng không ai dám phản đối.

Mãi đến năm 1945, khi cách mang tháng 8 thành công, đ/c Lâm Quang Thự là Chủ tịch huyện Quế Lâm (tức huyện Hoà Vang) làm trưởng đoàn ra Khe Lâm gặp gia đình và nhân dân, dẫn ra mộ Ngài Quan Khâm làm lễ phá xiềng giải phóng cho vong linh, giải oan khôi phục danh dự cho Ngài Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch. Trong buổi lễ này có đông đảo các tầng lớp nhân dân, trong đó có nhiều người theo đạo, cầm cờ đỏ, sao vàng. Một vùng trời ngập cờ và người chứng kiến sự kiện lịch sử này.

Qua cuộc đời và sự nghiệp Ngài Quan Khâm, là hậu thế chúng ta rút ra được mấy bài học đề giáo dục con cháu.

Bài học thứ 1 : Gương hiếu học

Gia đình nghèo, nhưng quyết tâm học, vừa đi lao động ở nhà thầy vừa học và cuối cùng thành đạt. Ông khuyên thanh niên lo học, nước đang gặp nạn cần phải có người tài năng để cứu nước.

Bài học thứ 2 : Đạo đức

Tuy ở địa vị cao vẫn khiêm tốn, giản dị, hoà đồng. Cụ thể Ngài Quan Khâm khi trở về làng ngoại tại Khánh Sơn, đến làng ông xuống kiệu đi bộ,  dân làng trải chiếu cho ông đi nhưng ông không bước trên chiếu và ôn tồn nói : “các cụ, các bác đừng làm thế, tôi là cháu ngoại làng ta, con cháu trong nhà cả mà” và vui vẻ đi cùng dân vào làng vào làm lễ tại nhà thờ.

Bài học thứ 3 : Yêu nước

Một người yêu nước chân chính. Tuy làm quan hưởng bổng lộc của triều đình, nhưng trước giặc ngoại xâm ngài không thể yên lòng. Đứng trước hoàn cảnh này. Đạo quân – thần – và lòng yêu nước ngài phải thực hiện sao đây : vẫn phải chấp hành lệnh vua nhưng khi thực hiện, truyền đạt làm thế nào có lợi cho phong trào Cần vương. Phải là người yêu nước có mưu trí cao, phải có uy tin và nhiệt tâm mới đạt được.

Bài học thứ 4 : tìm về cội nguồn

Giữ truyền thống tốt đẹp của dòng họ Nguyễn Hữu dù ở đâu, cương vị nào, Ngài Quan Khâm cũng nghĩ về tộc họ, lo cho tộc họ phát triển, trùng tu lăng mộ cha, ông. Mỗi lần về quê ông đều đến viếng lăng mộ, nhà thờ, đình chùa.

Và sau hết các câu hỏi mà nhiều người băn khoăn, chúng ta cần phải làm sáng tỏ, đó là :

1. Tại sao tên Ngài không có trong khoa thi 1868 ?

Ngài Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch còn có 2 tên là Nguyễn Thông và Nguyễn Lịch. Việc không có tên lưu trong khoa thi 1868 là do Triều đình Huế vừa có bản án “Tam ban trào điển” vừa xoá tên trong sử sách thì còn đâu. Việc này chúng ta còn phải nghiên cứu qua 2 tên Nguyễn Thông và Nguyễn Lịch.

2. Tại sao sau 65 năm kể từ 19/8/1945 mới tổ chức kỷ niệm phá xiềng.

Sau 1945, quân Pháp lại xâm chiếm nước ta lần nữa. Từ 1954 chính quyền cũ ở miênNamcũng không thể thực hiện vì đây là mọt nhà yêu nước chống ngoại xâm.

– Từ 1975 : đất nước khó khăn kéo dài và nhất là phải tìm cho ra sự thật : khi lịch sử xã Hoà Sơn và lịch sử huyện Hoà Vang hoàn thành có ghi rõ thân thế, sự nghiệp và công lao của Ngài Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch và lục này đã đủ yếu tố, cộng thêm tộc Nguyễn Hữu Khe Lâm hoàn thành Từ đường tộc tại làng. Các đời hậu duệ Ngài Quan Khâm có vị trí trong xã hội  thì mới tổ chức kỷ niệm và chúng ta hôm nay biết thêm lịch sử Ngài cũng là để làm sáng tỏ tổ tiên để ngày sau làm tốt đẹp hơn.

“Cây trăm cảnh cùng chung một

Nước trăm khe đều chảy từ nguồn”

Đó là chân lý và là tình cảm khi đại diện bà con tộc Nguyễn Hữu làng Khe Lâm về dự lễ Tế Thu tại nhà thờ tộc Nguyễn Hữu làng Thanh Quýt và việc làm hôm nay giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp Ngài Quan Khâm cũng là thực hiện ý tưởng “Quang Tiền Du Hậu” của cha ông.