Trang chủ > bài viết > Bảy cây chim chim

Bảy cây chim chim

11/01/2012

 CÂY CHIM CHIM CỦA LÀNG

Nguyễn Văn Đoàn 

 Đối chiếu các nguồn sử liệu với gia phả các tộc họ của làng, nhiều người am hiểu cho rằng làng Thanh Quýt quê tôi ra đời sau sự kiện Vijaya (Đồ Bàn ) năm Hồng Đức thứ hai ( 1471 ) khi Quảng Nam trớ thành đạo thứ 13 của nước Đại Việt. Sau khi lập công trạng trong chiến trận ở thành Vijaya, một vị tướng tài của vua Lê Thánh Tông được phép ở lại phương Nam chiêu mộ dân binh khai khẩn vùng đất cũ của người Chăm lập làng xã (1). Cuối thế kỷ XV, khi đã dân cư đã sống thành các xóm của làng, đặt xã hiệu trình báo với triều đình xong, vị tướng từng xông pha trận mạc ngày trước nay thành tiên chỉ của làng triệu tập các vị bô lão bàn chuyện xây dựng Đình, ngôi – nhà – chung, trung tâm sinh hoạt văn hoá của làng. Đình được xây dựng trên Gò Sành, vốn là một di tích văn hoá Sa Huỳnh – Champa, ở giữa xóm Trung Lương ( xóm Chay ), một vị trí mà cho đến nay các vị uyên thâm đều cho rằng đó là địa điểm đẹp nhất dưới góc nhìn dịch lý – phong thủy.

Từ ngôi Đình bằng tre lợp tranh, đến ngôi Đình xây gạch lợp ngói âm dương, trải qua bao thăng trầm, biến thiên của lịch sử, ngôi Đình từng bị hư hại, tàn phá, có lúc gần như biến mất, nhưng Đình vẫn tồn tại trong ý thức và tình cảm của dân làng. Đình đã trở thành hồn thiêng của làng. Đình ở nước ta mỗi làng mỗi khác, từ kiến trúc, cảnh quan, cho đến các vị thần thành hoàng được thờ cúng ở đó. Riêng với làng Thanh Quýt của tôi, khi nhớ – nghĩ tới Đình, ngay lập tức hình ảnh của bảy cây Chim Chim xếp theo đội hình hàng ngang rất vững chãi trong sân Đình hiện ra trong đầu và trước mắt. Hàng cây Chim Chim với hương hoa thum thủm đặc trưng và trái của nó đã ám ảnh tôi từ ngày còn bé bước chân vừa đủ cứng cáp để tự chạy ra sân Đình đùa chơi với chúng bạn cho đến tận bây giờ. Có đứa trẻ nào của làng mà chưa từng ăn hạt Chim Chim nướng. “ Trái Chim Chim có hình dáng rất giống cái mõ của nhà chùa, treo lơ lửng khắp các cành cây. Mùa hè, trái già khô lại dưới nắng gắt, mở miệng ra, nhả xuống sân Đình những hạt đen tuyền bằng đầu ngón tay út, tha hồ cho bọn trẻ con lượm về nướng ăn…”( 2 ). Trong đó, có không ít đứa cũng không thể nào quên được cái cảm giác và ảo giác nôn nao, ngây ngất khi lỡ ăn luôn cái tim của hạt Chim Chim. Lúc phải xa nhà ra Huế học, nhiều khi tôi nhớ làng hơn nhớ nhà, nên mỗi khi có dịp về quên bạn chơi, từ Kim Long, An Cựu về tới Hương Trà, Hương Điền, Hương Thuỷ, Phú Vang, tôi thường tha thẩn đi tìm cây Chim Chim mà không hề thấy và đinh ninh rằng Chim Chim chỉ có ở làng mình. Từ khi về sống hẳn ở Đà Nẵng, tôi lại đi tìm cây Chim Chim và như tôi biết cho tới cách đây hơn 10 năm, ở khu trung tâm của thành phố này còn có hai cây. Một cây trong sân nhà văn hoá thiếu nhi trên đường Lý Tự Trọng, nay đã bị đốn bỏ theo kiến nghị của phụ huynh học sinh vì cái mùi bị xem là khó ngửi của hoa Chim Chim. Cây thứ hai ở trong một con hẻm nhỏ trên đường Trưng Nữ Vương, chẳng biết nay có còn không.

 

Bảy cây Chim Chim ứng với bảy tộc dân chính cư từ thuở lập làng và từ xa xưa dân làng đã truyền tụng câu chuyện rằng chính bảy vị tiền hiền có công khai khẩn lập làng đã vun trồng, chăm bón bảy cây Chim Chim như là một biểu tượng về công đức và trách nhiệm đối với làng để lưu lại cho muôn đời sau. Một trận chiến ác liệt xảy ra ở làng sau Hiệp định Paris, làm sập đổ hơn hai phần ba ngôi Đình và vùi dập mất sáu cây Chim Chim. Sau chiến tranh, cuộc sống còn quá khó khăn và vì nhiều lý do khác, chưa ai nghĩ đến việc trùng kiến ngôi Đình. Đến khi cuộc sống đã khá hơn, trong sinh hoạt của dân đang ở làng, trong những chuyến về thăm làng của kẻ tha phương, người ta thấy như vẫn còn thiếu một điều gì đó. Rồi đến lúc mọi người mới nghiệm ra, làng còn thiếu cái hồn của nó. Và đó chính là ngôi Đình. Chung lòng, chung sức, dưới bóng mát của cây Chim Chim cổ thụ còn sống sót, dân làng nhiều lần bàn bạc, thảo luận cho công cuộc phục dựng ngôi Đình. Nhưng đến lúc này một chuyện có thể gây mất đoàn kết đã nẩy sinh, cây Chim Chim còn lại là của tộc nào và đã có những cuộc tranh luận gay gắt, giành cây Chim Chim về cho tộc mình, có lẽ cũng chẳng kém gì chuyện tranh ngôi thứ ở làng thời phong kiến. Thuở lập làng chỉ mới có bảy tộc, sau hơn năm trăm năm tồn tại, phát triển đến nay số tộc đã hơn 30. Tội nghiệp cho cây Chim Chim già, cây biết thuộc về ai ! Thế rồi, trước sự tôn kính đối với các vị thần thành hoàng, chư vị tiền hiền, hậu hiền, các tộc họ của làng đã đồng tâm, nhất trí rằng cây Chim Chim là của Đình, tức của làng. Sự linh ứng dường như có thể thấy được trước mắt, từ ngày khởi công trùng kiến ngôi Đình, cây Chim Chim ngày càng xanh tốt, mùa xuân ra hoa kết trái, mùa hạ nhả hạt cho đám trẻ nay đã dư ăn, người lớn dù đã bớt thèm ăn nhưng vẫn còn nhớ cái vị béo ngậy của hạt Chim Chim.

 

Cây Chim Chim trở thành điểm định vị để tịnh tiến về phía trước và mở rộng diện tích ngôi Đình mới; ngay cả việc tạo dựng tam quan và cảnh vật mới ở sân Đình cũng phải lấy nó làm nền tảng. Trong mấy ngày lễ hội hồi hạ tuần tháng 5 năm 2008 nhân khánh thành ngôi Đình mới, cây Chim Chim xanh tốt, trái đeo đầy cành, như là biểu hiện của một sức sống mới. Một người làng xa quê lâu năm nhận xét : “ Đình mới to hơn, đẹp hơn Đình ngày xưa, nhìn không ra. May nhờ còn có cây Chim Chim mà nhớ ra Đình cũ“. Đúng vậy, cây Chim Chim không những tôn lên vẻ đẹp của kiến trúc mới, mà còn tạo ra cái “duyên “ hiếm có cho ngôi Đình. Đình đã giành lại vị trí trung tâm của làng để thực hiện các chức năng văn hoá vốn có từ xa xưa của mình và cây Chim Chim là chứng nhân duy nhất còn sống sót trong suốt diễn trình lịch sử – văn hoá cuả làng.

Vào một ngày đầu tháng 11 âm dương lịch năm rồi, tôi nhận nhiều cuộc điện thoại của các vị cao niên trong Ban tổ chức sinh hoạt Đình làng gọi ra báo một tin nghiêm trọng : “Cây Chim Chim bị bệnh, có thể chết “. Đúng là cái tin khủng khiếp. Theo đúng chu trình từ hằng trăm năm nay, khoảng cuối thu đầu đông, Chim Chim nẩy lộc đâm chồi trổ lá xanh tươi, giữa xuân ra hoa, đầu hạ kết trái; đến thu lá rụng để bắt đầu chu trình mới. Thế nhưng lần này cành vẫn trơ trụi mãi cho đến giữa đông, người từ Đông Bình ( xóm Dưới ), Tây Tịnh ( xóm Trên ), Bổn Thượng ( xóm Rừng ) kéo nhau về Trung Lương (xóm Chay ) ngóng trông và mong đợi lộc non nhú ra từ những cành Chim Chim vươn cao. Hết tháng 11, qua tháng chạp vẫn chưa thấy lộc, nhiều cuộc họp khẩn cấp, tờ trình – kiến nghị của làng gởi lên huyện, lên tỉnh kêu cứu : cây Chim Chim, cái duyên của ngôi Đình làng đã được công nhận di tích lịch sử – văn hoá cấp tỉnh, đang bị bệnh và có thể chết. Tất cả đều im lặng. Có người buột miệng : “ Cứu mộc như cứu nhơn ! “ ( 3 ) Nhưng có khi người cũng chưa được cứu, huống gì là cây…

Mùng một Tết năm nay tôi vẫn về làng như một thông lệ không thể nào mất được. Trên quốc lộ I cách làng khoảng gần một cây số, tôi đã nhìn thấy cây Chim Chim vẫn trơ trụi lá. Ở làng suốt cả buổi sáng, nhưng tôi không thể bước chân lên Đình, tôi quá sợ cái cảm xúc phải nhìn tận mắt cây Chim Chim “ bị bệnh và có thể chết “, nên năm nay đành chịu tội thất lễ với thành hoàng; chư vị tiền – hậu hiền; tổ nghề Ty Cơ ( dệt vải ) và nhất là Yên Thảo (thuốc lá), nghề cha mẹ tôi đã theo đuổi mấy chục năm, nhờ đó anh em tôi có cơm ăn, áo mặc và được học hành.

Hôm nay Nguyên Tiêu, đã qua nửa tháng đầu của xuân. Lộc non của Chim Chim vẫn chưa nhú. Nhưng từ một niềm tin thiêng liêng, tôi nghĩ Chim Chim không bao giờ chết.

———————————————

( 1), (2) Nguyễn Văn Đoàn, Chuyện làng, tạp chí Khoa học & Phát triển, số 30, 31, Xuân Ất Hợi 1995, tr.17 – 18.

( 3) http://vn.360plus.yahoo.comm/tdthang1952/article?mid=821

17. II. 2011

Nguyễn Văn Đoàn