Trang chủ > bài viết > Về vụ án “Tam ban triều điển”

Về vụ án “Tam ban triều điển”

21/12/2011

Về vụ án “Tam ban triều điển”

Tác giả: Võ Thúc Loan

(14 – Ngô Thì Nhậm, Ngọc Trạo, TP Thanh Hóa)

Vụ án “Tam ban triều điển”, kể về một tấm gương lẫm liệt của người con xứ Quảng đã anh dũng kiên cường hy sinh cho Phong trào Cần vương – chống Pháp ở xứ Thanh. Dưới đây là câu chuyện do Tiến sĩ Lâm Quang Thạnh (1) kể lại.

Nguyễn Hữu Lịch, thường gọi là Quan Khâm, người làng Khê Lâm, tổng Phước Tường thượng, nay là thôn Hòa Khê, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang. Nguyên tiên thế người đất Hải Dương theo chân vua Lê Thánh Tông vào Nam mở cõi, “đất lành chim đậu” ở làng Thanh Quýt, nay ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đến đời thứ 8, ông Nguyễn Hữu Sao lên vùng bán sơn địa, đất rộng, người thưa ở phía Tây Bắc huyện Hòa Vang khai hoang, lập xóm và được sắc phong Tiền hiền làng Khê Lâm. Ông có 6 cháu nội, người thứ 3 là Nguyễn Hữu Lịch rất ham học và được cha là Nguyễn Hữu Thành ưu tiên, chắt chiu, dồn sức cho ăn học. Trong vùng không có thầy, Nguyễn Hữu Lịch được cha gửi về tộc chính Thanh Quýt tìm thầy ở huyện Điện Bàn.

Ông Nguyễn Hữu Lịch (1840 – 1887) quê ở làng Khê Lâm, tổng Phước Tường, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn Hòa Khê, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Ông là con thứ 3 của cụ Nguyễn Hữu Thành, trưởng phái nhất tộc Nguyễn Hữu. Lúc nhỏ theo thầy học chữ nho xa quê, đến năm 24 tuổi mới đi thi hương, đỗ cử nhân khoa Đinh Mão – 1867 niên hiệu Tự Đức thứ 19. Tuy khoa danh muộn nhưng ông là người đầu tiên khai khoa cho tổng Phước Tường, dân hàng tổng đón rước linh đình. Vinh quy bái tổ lúc này cũng là lúc triều đình đã ký Hiệp ước 1862 nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ và mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên cho Pháp.

Vinh quy bái tổ xong, ông ra kinh nhận nhiệm sở ở Bộ Binh dưới quyền Thượng thư Tôn Thất Thuyết, dần được thăng tới chức Trung Lang. Lúc này, thực dân Pháp đã củng cố chân đứng ở ba tỉnh miền Đông và đến tháng 6 năm 1867 đã cướp gọn 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ không phải nổ một phát súng. Triều đình không lo đánh giặc mà chỉ  ra sức điều đình thương thuyết để chuộc lại các tỉnh đã mất. Thực dân Pháp không những cự tuyệt thương thuyết mà còn lấn tới đưa quân ra Bắc đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh đồng bằng khiến triều đình phải ký Hiệp ước 1874 với những  điều kiện nặng nề hơn trước. Trong triều thì hai phái chủ chiến và chủ hòa xung đột gay gắt. Giữa lúc đó, vua Tự Đức băng hà (năm 1883). Quân Pháp thừa cơ kéo hạm đội đến đổ bộ đánh chiếm cửa bể Thuận An khiến triều đình hoảng hốt ký ngay điều ước Hacmăng (1883) chính thức nhận quyền bảo hộ của Pháp và cắt 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh nhập vào Bắc kỳ trao cho quân Pháp. Phái chủ hòa đã thành phái đầu hàng thực dân Pháp. Được thể Pháp lại lấn tới đánh chiếm Bắc kỳ lần thứ hai buộc triều đình ký thêm Hiệp ước Patenôt (1884) đặt cơ sở lâu dài cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam.

Để xoa dịu, phái chủ chiến do Thượng thư Tôn Thất Thuyết đứng đầu, nhân cơ hội trong Hiệp ước Patenôt có điều khoản trả lại Thanh – Nghệ – Tĩnh cho Trung kỳ, thượng thư nhân đó tiến cử ông Nguyễn Hữu Lịch làm khâm sai đại thần 3 tỉnh Bắc miền Trung (Thanh – Nghệ Tĩnh) sung chức Đổng lý tỉnh Thanh Hóa. Phái chủ hòa trong triều lại cho đó là dịp tốt để phân tán lực lượng chủ chiến ra xa nên không phản đối. Thời gian trước đó ở Kinh Thành ông đều về quê thờ cúng ông bà và chăm sóc cha mẹ nhưng từ khi nhận chức ở Thanh Hóa, do công việc bộn bề cho đến lúc tuẫn tiết trong thành nội Thanh Hóa cũng chưa có dịp nào trở lại quê hương Quảng Nam.

Ra Thanh nhận chức như chim được sổ lồng, với cương vị khâm sai đại thần Đổng lý Nguyễn Hữu Lịch đã bí mật ngày đêm tích cực thực hiện kế hoạch của Thượng thư Tôn Thất Thuyết chuẩn bị cơ sở cho cuộc kháng chiến lâu dài. Ông đã xây dựng nhiều đồn sơn phòng ở miền Tây cả ba tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh, lập các đội quân “Đoàn kiệt” và “Phấn nghĩa” ra sức luyện tập chờ ngày quyết chiến với quân thù. Ông đã vào Hà Tĩnh viếng thăm Tiến sĩ Phan Đình Phùng và Cao Thắng, hưởng ứng phất cờ khởi nghĩa Hương Khê. Ở Thanh Hóa, Phong trào Cần vương dấy lên sôi nổi và mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của các văn thân yêu nước Phạm Bành, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng và các tù trưởng Hà Văn Mao người dân tộc Mường, Cầm Bá Thước người dân tộc Thái, vv… Lập căn cứ Ba Đình trên địa bàn ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh thuộc huyện Nga Sơn.

Đổng Lý Nguyễn Hữu Lịch đã ra sức cổ vũ phong trào yêu nước chống xâm lược ở cả 3 tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh, hưởng ứng hịch Cần Vương nhưng vẫn phải thận trọng giữ thế với phái chủ hòa trong triều nên chỉ bí mật đứng đằng sau tích cực hậu thuẫn cho nghĩa quân, nhất là với tỉnh Thanh Hóa – nơi phong trào phát triển sâu rộng và mạnh mẽ hơn. Ông đã dồn sức giúp đỡ xây dựng một cứ điểm kiên cố để chỉ đạo thống nhất toàn tỉnh và một căn cứ hậu bị đề phòng rút lui khi cần. Đó là cứ điểm Ba Đình giữa vùng chiêm trũng mênh mông và căn cứ sơn phòng Mã Cao trên vùng núi trùng điệp phía tây.

Năm 1887, nghĩa quân Thanh Hóa thất bại ở Ba Đình rút lên Ma Cao, thực dân Pháp cũng bị thiệt hại nặng nề khi phải huy động đến 3.000 quân thuộc mọi binh chủng, có trọng pháo và pháo hạm yểm hộ ngày đêm vây hãm mới đánh chiếm được Ba Đình. Chúng đã hèn mạt trả thù bằng cách triệt hạ cả 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh xóa tên trên bản đồ của Nam Triều và bắt triều đình hoạch tội Đổng lý Nguyễn Hữu Lịch bằng bản án tuyên vắng mặt “Tam ban triều điển” (gồm chén thuốc độc, một dải lụa để tự thắt cổ và một thanh kiếm để tự sát). Ông đã bình thản đón nhận 3 vật “tam ban” từ Huế mang ra (do vua Đồng Khánh ban cho để tự chọn). Không hướng về Kinh Thành mà hướng về căn cứ sơn phòng Phú Gia (huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) nơi vua Hàm Nghi đang ngự tránh, bên cạnh khu Ngàn Trươi của nghĩa quân Phan Đình Phùng kính cẩn vái lạy. Song, ông quay lại phía thuộc hạ lưu luyến làm hiệu vĩnh biệt rồi bưng “tam ban” vào phòng đóng chặt cửa. Sáng hôm sau phá cửa vào thấy ông đã dùng kiếm tự sát trong tư thế ngồi uy nghi lẫm liệt. Một cái chết bi hùng kết thúc cuộc đời cương trực của một chí sĩ chống Pháp kiên cường giữa chốn triều đình bán nước. Ấy là vào năm Đinh Hợi – 1887 trước năm Hàm Nghi sa lưới giặc bị đầy sang Algerie.

Những ngày sau đó, một thuộc hạ thân cận của ông đã cẩn thận đánh dấu phần mộ nhưng mãi năm sau mới dám lặng lẽ đưa con trai ông là Nguyễn Hữu Sinh từ Quảng Nam lặn lội ra Thanh Hóa nhận mộ. Một nấm cỏ xanh rờn giữa bốn bề vắng lặng, không bia mộ, không hương khói trong thành nội Thanh Hóa…

Phải chờ đến hết đời Đồng Khánh đến vua Thành Thái khi các cuộc khởi nghĩa của Phong trào Cần vương ở Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh chấm dứt, con cháu ông mới bí mật ra Thanh Hóa bốc mộ đưa hài cốt về Khê Lâm. Mộ ông ở quê nhà cũng chỉ là mộ đất không đặt bia để giữ bí mật nhưng không ngờ một hôm quân lính triều đình đã mang xiềng xích sắt và tập hợp hương hào, tổng lý kéo đến xiềng mộ ông giao cho địa phương quản thúc phần hài cốt lẫn vong linh. Thật là tột cùng của sự dã man hèn hạ của bọn phong kiến thực dân.

Rất tiếc là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ liên miên khiến tên tuổi ông ít người nhớ đến. Ông là một chí sĩ kiên cường giữa chốn triều đình mục nát, kiên trì chống Pháp ngay từ thuở ban đầu trên đất xứ Thanh và tuẫn tiết ra đi cũng ở trên mảnh đất thiêng này. Chiến công của ông đã tô thắm thêm tình kết nghĩa keo sơn chiến đấu giữa hai tỉnh Quảng Nam – Thanh Hóa từ những năm tháng kháng chiến gian khổ, đi trước thời đại từ thuở ban đầu Phong trào Cần vương chống Pháp.

(1)   Tiến sĩ Lâm Quang Thạnh là Tổng Giám đốc Bộ Ngoại thương cũ đã về hưu, nay thường trú ở làng Cẩm Toại, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.