Trang chủ > bài viết > Nhật ký ở làng

Nhật ký ở làng

09/11/2010

Nhật ký ở làng !

Trích từ nongsonnet.com/showthread.php?…

Tốc độ đô thị hóa, cuộc sống công nghiệp phát triển, con người trở nên căng thẳng và dễ rơi vào trạng thái trầm cảm. Vì vậy, nhiều người ở thành phố bây giờ thèm khát một ngày về lại nông thôn để tìm sự cân bằng. Nông thôn – nơi lưu giữ nhiều nếp văn hóa truyền thống cũng đang đứng trước những thách đố đô thị hóa và rơi vào lãng quên…

VỀ LÀNG

Bạn đừng hỏi vì sao tôi thường chạy xe về làng mình vào những ngày cuối tuần.

 

Mười hai tuổi tôi đã mất quê. Mất một dòng sông, một gốc đa, một con đường đất, những con mương dẫn nước ra ruộng… Ở đó, có cả một tuổi thơ đã đi qua trong những buổi ngâm mình dưới bến nước trong xanh, bao lần leo trèo bắt chim, chơi trò u mọi hoặc phơi vàng mái đầu những hôm đi tát cá… Súng đạn tràn về. Con chó vàng nhà tôi nghe tiếng bom nổ cũng bỏ đi biệt tích.

Ánh sáng đô thị chói chang hắt ra từ những bóng đèn điện nhiều màu. Con đường trải nhựa thẳng tắp, xe cộ và tiếng còi inh ỏi, vội vã như đang tranh giành nhau từng miếng sống. Những cánh cổng nhà hàng xóm luôn khép kín đầy nghi ngại. Dường như những ngọn gió thổi qua những ngôi nhà cao tầng cũng hẹp hòi và gay gắt hơn. Một chút ánh trăng, một tiếng gà gáy bất chợt… lại càng hiếm hoi. Những giọng nói tứ xứ nghe không quen tai. Ta chìm ngập vào một nhịp điệu khác của cuộc sống. Và ta lớn lên, ta bị gò ép vào cái “khuôn khổ mới” hồi nào không hay biết. Ta thành một ta khác một cách tự nhiên.

Cho đến một ngày tiễn đưa mẹ tôi trở về yên nghỉ ở làng cũ – làng Thanh Quýt (xã Điện Thắng Trung, Điện Bàn).

Đầu tiên và bất ngờ với tôi là một ông cụ trồng hoa cúc bên đường liên thôn. Nhiều tháng trời, mỗi lần về quê viếng mộ mẹ, tôi đều ghé vào mua vài cây hoa. Ông hỏi thăm nhiều chuyện một cách chân thành rồi tự tay chọn những cây hoa đẹp nhất cho tôi, nhưng tuyệt nhiên không lấy một đồng. Câu nói của ông, tuy giản dị, nhưng khó lòng tôi có thể quên: “Chú cũng mong con cái mình có hiếu với cha mẹ như vậy!”.

Ở làng, tôi có nhiều bạn học cũ. Những cụ già và những cán bộ đương chức. Những đứa em họ và vợ chồng một người bạn thân, từng bị thương tật trong chiến tranh đang làm thợ hớt tóc. Tôi về làng, lần nào cũng gặp hết thảy họ ở cái quán hớt tóc sơ sài của bạn hoặc ngồi bù khú chuyện cũ chuyện mới với cánh bạn cũ ở hiên nhà… Nhưng những con người đó đối với tôi là một kho tàng những bài học về sự chân thành và giản dị trong cuộc sống.

Xưa tôi đi khỏi làng và nhớ tiếc từng kỷ niệm. Nay về làng cũ lại yêu thương những tấm lòng chân chất của bao người. Không inh ỏi tiếng còi xe, không nồng nặc khói nhiên liệu. Và đó là lý do mỗi tuần tôi lại về thăm quê để được làm “thôn dân”, hít thở không khí trong lành, nhìn ngắm cảnh trí thoáng đãng và cảm động với mối chân tình thân thuộc chung quanh.

Mỗi khi về quê, tôi thường viếng thăm ngôi đình làng.

Đình làng Thanh Quýt quê tôi xây dựng đã hơn 400 năm và gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử. Đây là nơi toàn dân làng tập trung kéo xuống Hội An đi cướp chính quyền hồi Cách mạng Tháng Tám-1945, rồi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946. Trong chiến dịch mùa Xuân 1975, cũng chính tại ngôi đình này, nguyên Chủ tịch Hội đồng nhà nước, nguyên Bí thư Khu ủy khu 5 – Võ Chí Công đã hạ lệnh tiến công giải phóng Đà Nẵng… Hai năm trước, dân làng đã đóng góp trên 1,5 tỷ đồng phục dựng ngôi đình và đã được UBND tỉnh Quảng Nam công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh. Và ngôi đình vẫn đóng vai trò là nơi sinh hoạt văn hóa của dân làng như ngày xa xưa.

Sáng mồng 4 Tết Nguyên đán hằng năm, những tân sinh viên của làng lại tề tựu tại đình làng dâng hương lên các bậc tiền nhân. Tết Kỷ Sửu 2009, hơn 40 tân sinh viên tề tựu trong buổi lễ tuyên dương khen thưởng khá cảm động. Các em cùng cung kính thắp hương tưởng nhớ tổ tiên trong âm thanh rộn rã của ba hồi chiêng trống và bài văn cúng đình đầu Xuân. Mồng 4 Tết Canh Dần năm nay, cả làng có đến 65 em vừa đỗ đại học, tăng gấp rưỡi năm trước. Có nhiều em đỗ cả 2 trường. Có em được chọn vào đội tuyển quốc gia tham dự các kỳ thi Olympic…

Làng Thanh Quýt là quê hương của Bà mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ (nay đã 107 tuổi), là mảnh đất sinh ra Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, là nơi Lê Tự Quốc Thắng đi ra và trở thành giáo sư – tiến sĩ toán học nổi tiếng thế giới… Tuy đất hẹp người đông, nhưng thành quả ban đầu trong học tập của các em đang cho thấy chất xám đang dần trở thành một nguồn lực đang được chăm chút của cả cộng đồng. Nhiều sinh viên năm thứ 2, thứ 3 có hoàn cảnh mồ côi, nghèo khó vẫn tiếp tục được các mạnh thường quân, các doanh nhân người địa phương giúp đỡ về tài chính để tập trung vào đèn sách.

Quỹ khuyến học làng Thanh Quýt được hình thành với sự đóng góp các nhà hảo tâm, doanh nghiệp trên địa bàn và từng người dân ở địa phương cũng như những người đang sinh sống, làm ăn xa quê. Trong danh sách những người đóng góp vào nguồn động viên cho học tập này còn có những nông dân, những cụ ông với số tiền tuy chỉ 50 – 100 nghìn đồng nhưng đầy ý nghĩa, bởi nó thể hiện sự quan tâm sâu rộng của cộng đồng đối với thế hệ tương lai.

Các tân sinh viên dâng hương và nhận sự khen thưởng của chính quyền, Hội Khuyến học địa phương ở ngôi đình làng lịch sử ngay trong dịp tết cổ truyền. Tất cả những tình cảm ấy, như phát biểu của một đại diện tân sinh viên, sẽ còn theo suốt bên mình trong những năm ở giảng đường đại học và thôi thúc các em trên đường học tập… Kinh nghiệm làm khuyến học, khuyến tài của một địa phương, tuy chỉ mới bắt đầu trong vài năm, nhưng đặt trên nền tảng của sự đồng thuận từ trong cộng đồng và trên nền văn hóa truyền thống này rất đáng được trân trọng. Nhìn rộng ra trên nhiều làng, xã, nhiều tộc học ở khắp đất Quảng, hầu như ở đâu ngày nay cũng có phong trào khuyến học. Những người con của các làng, các tộc họ đi làm ăn xa, đến những ngày tết, ngày lễ lại trở về làng tưởng nhớ tổ tiên và góp phần chăm lo cho thế hệ trẻ, như một cách hướng về tương lai của cả cộng đồng.

SỰ THÁCH ĐỐ CỦA NGƯỜI XƯA

Xưa, làng tôi tên Kim Quất, đến thời chúa Nguyễn đổi thành Thanh Quất, là một trong 66 làng thuộc phủ Điện Bàn (theo Ô châu cận lục). Các bậc tiền hiền từ các tỉnh Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Hồng vào khai cư lập nghiệp ở đây đến nay đã hơn 5 thế kỷ. Làng có 4 xóm – gọi là “tứ ấp” – với 12 xứ đất gồm: Lệ Thủy, Bắc Bằng, Bàu Đưng, Thanh Luy Tiền, Thanh Luy Trung, Thanh Luy Hậu, Mụ Đội, Bàu Nhơn, Minh Thượng, Trà Cổ, Thạch Não Nội và Thạch Não Ngoại. Lại có các xứ đồng chuyên trồng trọt, các xứ đất gò làm nghĩa trang cho người quá vãng như Gò Dang, Gò Nơm, Gò Tử, Gò Huề, Vạt Cháy, Gò Phật, Gò Lao, Gò Sành, Vườn Huê, Vườn Chỉnh, Vườn Chàm. Liên quan đến xứ đất, xứ đồng là những câu chuyện “dở khóc dở cười” của dân làng trong quá trình truy tìm mộ ông bà, tổ tiên.

Trong đời sống tâm linh, thất lạc mồ mả tổ tiên đã trở thành nỗi dằn vặt trong nhiều người. Và tôi nhiều lần trở về làng cũng không nằm ngoài chuyện đi tìm mộ tổ ở xứ đất mang tên Gò Huề.

Nằm ở phía tây nam của làng, vùng đất có địa thế khá cao này được chọn làm nghĩa trang từ mấy thế kỷ trước. Bao nhiêu thế hệ đi trước của nhiều tộc họ khác nhau trong làng do chìm đắm trong nghèo đói và những cuộc chiến tranh dai dẳng nối tiếp nhau nên đã tạo ra một tình thế khó xử cho đời sau: mồ mả ông bà bị thất lạc. Ngày trước, mộ phần đa số chỉ là nấm đất không có bia mộ; ngôi mộ nào có bia thì là bia viết bằng chữ Hán, bị đạn bom làm cho không còn nguyên vẹn. Có ngôi mộ vị trí chỉ còn lại trong trí nhớ của người lớn tuổi đã tạo ra sự tranh giành của gia đình, tộc họ khác. Khắp nghĩa trang Gò Huề có hàng trăm ngôi mộ đất – không bia hoặc có bia nhưng không còn nhận ra tự dạng – từ lâu chẳng được chăm sóc, hương khói. Thi thoảng vào ngày giỗ âm linh (20 tháng chạp hằng năm), người trong làng huy động nhau giẫy mả âm linh, nhưng thường là qua quýt.

Đi tìm mộ tổ tiên trước hết phải giở lại gia phả, tông đồ để nắm rõ tên tuổi, thế hệ của người quá cố để biết được nơi yên nghỉ của họ. Nhưng trong nhiều trường hợp, những ghi chép đại khái và đôi khi sử dụng thủ pháp “chơi chữ” để tránh nhắc đến tên tục của tiền nhân hoặc tránh phạm húy của người xưa cũng khiến đời sau “bó tay”. Chẳng hạn, một vị họ Trương thuộc Phái Nhất, Chi Nhất qua đời cách đây hơn 200 năm, bia mộ khắc “Việt Nam, Thanh Luy xứ, Trương Quý công tự viết Tửu Doanh chi mộ”; bên trái bia ghi “Trương tộc, phái… chi… phụng lập”; bên phải ghi “Ất Tỵ niên đông”. Bia không ghi rõ đời thứ mấy, Thanh Luy Tiền hay Thanh Luy Hậu! Con cháu Chi Nhất ngày nay lên tới hàng trăm hộ và không rõ vị tổ có tên tự Tửu Doanh là ai, vì trong các vị tiền bối của họ chẳng có ai tên đó. Hằng năm đi tảo mộ, con cháu trong tộc cũng chỉ được những người lớn tuổi bảo “Đó là ông (hoặc bà) trong tộc mình!” làm thông tin cơ bản và duy nhất.

Rốt cuộc, bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số phận tiền nhân đã bị phiêu dạt ngay trên đất làng mình. Bao nhiêu cháu con luôn hướng về tổ tiên đành ngậm ngùi tiếc nhớ. Chính cách viết văn bia bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm của ông bà cũng là nguyên nhân khiến con cháu đau đầu trong tìm kiếm. Sau đây là vài ví dụ về chuyện tìm mộ ông bà, tổ tiên ở làng:

Có gia đình tộc Nguyễn, dù có người đọc được chữ Nho, chữ Nôm nhưng vẫn không biết đâu là nơi yên nghỉ của tiền nhân. Đó là trường hợp của cụ tổ đời thứ 8 – sống cách đây 200 năm. Tuy đã rõ tên tuổi trong tông đồ, nhưng gia phả ghi “Mộ táng Viên Ba xứ, thạch bi” – được hiểu là mộ chôn tại xứ đất Viên Ba đã lập bia đá. Nhưng kiểm lại, trong 12 xứ đất của làng và các làng lân cận vẫn không ai tìm thấy xứ Viên Ba ở đâu. Sau nhiều năm tìm kiếm rồi suy luận, con cháu có người đã luận rằng Viên là vườn, Ba là bông hay hoa. Nhưng trong làng cũng không thấy đâu là vườn hoa, vườn bông mà chỉ có… Vườn Huê. Đến tìm, té ra mộ cụ tổ quả thật ở Vườn Huê, có bia đá và tên tuổi cụ thể.

Một mộ tổ khác cũng cách đâu 150 năm, gia phả ghi “Mộ táng Đảnh Chí sở thạch bi”. Theo cách suy luận trên, con cháu hiểu ra “đảnh” hay “đỉnh” có nghĩa là cái “vạc”, đọc lên đồng âm với “vạt”; trong chữ “chí” lại có bộ “hỏa”, dính líu đến việc “cháy” của lửa. Nhờ vậy, con cháu đã đến Vạt Cháy và tìm được mộ.

Những câu chuyện trên là cái khổ khi tìm nơi an táng. Còn tìm theo tên tuổi ghi trên gia phả hoặc bia mộ cũng là một cái khổ đối với lớp cháu con đời sau. Có trường hợp gia phả ghi “Tằng tổ tỉ P.T. Quý Nương hiệu Nam Trân” nhưng trong dòng họ ấy không có ai tên là Nam Trân. Con cháu bèn mời một cụ thâm nho đến kiến giải. Vị thâm nho ấy đã liên tưởng đến giai thoại về quả lòn bon của xứ Quảng (Nam Trân quả), nhờ vậy con cháu đã tìm được mộ bà. Hóa ra cụ tổ tỉ này tên thật là L. (tên bộ phận sinh dục nữ), vì khó nuôi nên mới được đặt tên như thế; gia phả ghi là Nam Trân để tránh chữ.

Hoặc có một mộ phần bia mộ ghi “Nguyễn Quý công, tự viết Minh Linh chi mộ”. “Minh Linh” trong Hán tự nghĩa là con tò vò. Thành ra suốt nhiều năm, con cháu không ai có thể xác định được đó là bia mộ của người nào trong tộc. Sau có người giảng giải theo một câu chuyện sai lầm trong cách nghĩ của người xưa rằng con tò vò khi làm tổ thường tha những con sâu non về, chích nọc vào sâu để sâu hóa thành tò vò con. Như vậy sâu là con nuôi của tò vò. Từ suy luận đó, cháu con lật gia phả thì quả trong dòng tộc có người tên Nuôi và là con nuôi của một gia đình trong làng. Nhờ đó, mộ ông được cháu con tu sửa tôn tạo khang trang.

Những dẫn dụ trên cho thấy cách chơi chữ của người xưa trên văn bia và trong gia phả đều là những thách đố không dễ vượt của đối với thế hệ con cháu hôm nay.

NHỮNG CÂU CHUYỆN DÒNG TỘC
Từ xưa, trong văn hóa làng xã, việc lập gia phả đối với các tộc họ là rất quan trọng. Trong sự phát triển của dòng tộc, mỗi “tộc” chia ra thành nhiều “phái”, mỗi phái có nhiều “chi”, dưới chi là các “phân chi”, sau phân chi là các “hệ” (thường được gọi là các “đầu ông”). Gia phả tộc sau đó được phân chia thành “phả hệ” các phái – chi – phân chi – hệ phả do các trưởng nam phụng thờ, gìn giữ rất cẩn thận. Các phả hệ thường được viết trên giấy dó, có nơi viết trên lụa tốt, cuộn tròn đặt trong các ống tre, ống đồng và để ở nơi trang trọng nhất trên gian thờ chính. Chỉ những ngày giỗ chạp, ngày tết, cháu con tề tựu, tộc trưởng hoặc trưởng nam dựng lễ vật, thắp nhang khấn ông bà tiên tổ xin “thỉnh khai gia phả” thì mới được lấy xuống. Thỉnh mở phả hệ thường là để phổ biến cho con cháu, viết bổ sung các đời lớp tiếp sau hoặc thêm vào các sự kiện, biến cố trong tộc, phái. Vì vậy, tộc phả hay “phả hệ” cũng chính là bộ sử của gia đình, dòng họ, là văn bản hết sức quan trọng, thiêng liêng của mỗi dòng tộc. Xung quanh vấn đề dòng tộc, làng tôi có khá nhiều chuyện.

Hôm nọ, người em trai vị trưởng nam một chi của tộc X. đi thăm đồng thì chân vướng vào con diều bị đứt dây vừa rơi trên bờ ruộng. Cúi xuống nhặt con diều, ông không tin vào mắt mình khi đọc những dòng chữ Hán rõ mồn một trên tấm giấy được dán làm diều. Ông thả cây cuốc, tay rà theo từng chữ… Không thể tin được, những dòng chữ đó ghi rõ tên – tuổi, gốc gác của những bậc trưởng thượng và cả tổ tiên ông từ nhiều đời trước. “Không lẽ cuốn phả hệ của nhà mình lại bị đem ra dán diều cho trẻ con?”, câu hỏi hiện lên trong đầu ông. Vừa lúc đó, chú bé bị mất diều đi tới. “Cháu có con diều đẹp quá! Ai dán cho cháu vậy?”. “Dạ, cha cháu”. “Nhà cháu ở đâu?”. “Dạ, ở chòm Đồng bên kia sông”. Theo cậu bé về nhà, quả nhiên cha cậu bé đang giữ quyển phả hệ của nhà ông. Ông tái mặt nói thật, cha cậu bé nghe xong cũng tái mặt và rối rít xin lỗi. Chuyện là: Cha cậu bé là người bán kẹo kéo dạo. Một hôm, trên đường đi bán ngang qua làng bên kia sông, có một cháu bé đem tập giấy chi chít chữ Hán ra đổi lấy cây kẹo kéo. Ông không biết chữ Hán nhưng biết loại giấy đó dai và bền, có thể làm quạt và làm diều cho con trai thả trên đồng.

Ông này – sau khi xin lại được những trang còn sót lại của quyển phả hệ và mang cả hai con diều trở về – bèn đến nhà trưởng nam viện lý do để xin được xem gia phả. Vị trưởng nam thắp nhang khấn lạy và cầm chiếc ống tre đựng gia phả xuống thì hỡi ôi, chỉ còn là chiếc ống tre rỗng không. Lần này đến lượt anh trưởng nam tái mặt, chuyện chi chứ chuyện để mất gia phả là chuyện tày trời… Và sau khi câu chuyện được phơi bày, toàn bộ thành viên của hệ phái “họp phiên bất thường” và đi đến kết luận: Anh này không còn đủ tư cách làm trưởng nam và người em kế được giao trách nhiệm giữ gìn gia phả, hương khói nhà thờ. Đến nay, hơn một thế kỷ đã trôi qua, con cháu trưởng của người em vẫn nối nhau tiếp quản vai trò trưởng nam của chi phái. Câu chuyện buồn nhưng có thật ấy đã thể hiện một nét sâu sắc của văn hóa tộc họ ngàn đời nay của người Việt.

Lại có chuyện vì chiếc khăn đóng mà một trưởng nam khác đã phải bỏ làng đi biệt xứ: Ngày nọ có việc làng, lý trưởng mời đại diện các tộc họ, chi phái đến dự. Bàn việc xong, làng tổ chức liên hoan. Tiệc chưa tàn nhưng một vị là trưởng chi tộc B. đã thấm rượu, không uống được nữa bèn xin về sớm. Người này khăn đóng áo dài, chân mang guốc mộc, dù đen kẹp nách… về nhà và cởi y phục quăng vào một góc rồi leo lên tấm phản làm một giấc đến chiều.

Lúc đó ở nhà lý trưởng tiệc mới tan. Ai lấy khăn áo người đó, cáo quan ra về. Chỉ còn một người không tìm được chiếc khăn đóng mới của mình ở đâu nhưng lại phát hiện còn thừa một chiếc khăn đóng đã cũ. Và ông này nghĩ ngay đến vị trưởng nam chi tộc B. về trước đã tráo khăn cũ để lấy khăn mới. Ông ta hùng hổ tìm đến nhà người trưởng nam kia và la toáng lên: “Ông bỏ lại khăn đóng cũ là có ý để lấy cắp cái khăn mới của tôi. Ông là đồ ăn cắp!”. Nghe tiếng ồn ở nhà trưởng nam, mấy người em ruột, em thúc bá của người trưởng nam nhà ở gần đó chạy qua. Ông này thấy vậy nói luôn: “Anh chúng mày lấy cắp khăn mới của tao. Vậy có đáng là huynh trưởng của chúng mày không?”. Người trưởng nam lúc này mới tỉnh rượu, đem khăn ra trả nhưng mọi sự phân bua đều bị người kia bác bỏ và la mắng mỗi lúc một hăng…

Ngay sau chuyện đó là cuộc họp của chi phái B. Ai cũng hiểu cớ sự xảy ra là nhầm lẫn do uống nhiều rượu. Nhưng một trưởng nam lại để người ngoại tộc đến tận nhà bêu xấu về phẩm hạnh là chuyện không thể chấp nhận. Người trưởng nam chi phái B. suốt mấy đêm sau đó đã thức trắng vì đau đớn. Và vào một đêm, ông dắt vợ cùng hai đứa con lặng lẽ bỏ làng ra đi. Chẳng ai biết vợ chồng họ đã trôi dạt về đâu. Mãi đến khi có mấy người tìm về làng, đến chi phái B. xin được nhận ông bà tổ tiên theo lời trăng trối của cha, mọi người mới biết đây là con cháu của vị trưởng nam bỏ làng đi năm xưa.

Vị trưởng nam biệt xứ ngày nọ vì danh dự và chức phận phải đau lòng bỏ xứ ra đi. Bây giờ đã là người thiên cổ, nhưng nghe kể rằng trải qua chừng ấy thời gian, ông vẫn đau đáu nhớ về quê làng. Những đứa con theo lời trăng trối của cha tìm về cội nguồn. Bởi, làng quê và dòng tộc muôn đời vẫn là nơi chốn thiêng liêng của mỗi người.

LẤY MÁU MÌNH GÌN GIỮ GIA PHONG

Làng Thanh Quýt (xã Điện Thắng Trung, Điện Bàn) có không ít những câu chuyện về những người đã âm thầm bảo vệ hương án thờ ông bà tổ tiên, giữ cho đến chết những bảng phả hệ, những sắc phong của dòng tộc giữa binh biến và ly tán. Có người đã ngã xuống để giữ gìn đến cùng những vật gia bảo ấy. Cháu con các tộc họ nhìn những tấm gương đó mà không ngừng phấn đấu quên mình để làm rạng rỡ gia phong, làng xóm.

Khi nhắc đến số phận những “cuốn sử” của các dòng tộc ở làng mình, tôi lại nhớ đến nhiều câu chuyện liên quan đầy cảm kích ở những làng khác trên quê hương Quảng Nam. Nhớ để hiểu, để sâu sắc thêm truyền thống hiếu nghĩa và lòng yêu nước của người dân xứ Quảng.
Ấy là chuyện ở làng Hương Quế (xã Quế Phú, Quế Sơn). Trong làng có một nhà thờ của tộc Phạm xây dựng từ thời vua Tự Đức. Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, nơi đây còn lưu giữ gia phả tộc họ và 6 tờ sắc phong từ các đời vua Lê. Trong những tờ sắc phong, có hai tờ đóng dấu đại ấn “Đế mạng chi bửu” của vua Lê Thánh Tông và “Chế mạng chi bửu” của vua Lê Thần Tông ban tặng cách đây gần 6 thế kỷ vẫn còn nguyên vẹn, được bảo vệ cẩn thận trong một ống đồng.

Theo gia phả tộc Phạm, bậc tiền hiền vào đây đầu tiên là Phạm Nhữ Dực – con trai thứ 5 của danh tướng Phạm Ngũ Lão đời Trần. Năm 1401, Phạm Nhữ Dực giữ chức Chánh đô án vũ sứ phụ trách di dân ở khu vực Quảng Nam – Quảng Ngãi. Cháu nội của ông về sau là Phạm Nhữ Tăng theo vua Lê Thánh Tông vào Nam năm 1471 rồi được phong đến chức Quảng Nam thừa tuyên đô thống. Năm 1478, ông mất tại Quảng Ngãi, vua cho cải táng và đưa về an nghỉ tại làng Hương Quế. Trước mộ ông hiện nay vẫn còn câu đối do chính vua đề, tạm dịch nghĩa: Nghĩa sĩ lắm mưu cơ, góp sức đồng lòng bình Chiêm quốc/ Gương đài thêm rạng rỡ, hương hồn ngàn thuở rạng trời Nam.

Ông Phạm Trợ, người đang được giao trọng trách giữ gìn những tài liệu, những tờ sắc phong quý giá trên kể lại: Trước tôi, người được giao giữ trọng trách này là cụ Phạm Trí – hậu duệ đời thứ 17 của tộc. Theo lời trăng trối của các đấng sinh thành là “sống chết gì mỗi thế hệ cũng phải thay nhau giữ cho được gia bảo của tổ tiên”, nên dù chiến tranh, ly tán mấy mươi năm cụ vẫn luôn mang theo bảo vật của gia tộc bên mình. Năm 1949, trong một lần lùng sục đốt phá ở làng Hương Quế, bọn lính Pháp đã vào nhà thờ tộc Phạm lục tìm tài liệu, vũ khí của Việt Minh. Chúng đã lật tung gia phả, những tờ sắc phong ấy và ném bay tứ tán. Khi chúng rút quân, ông mới đi nhặt lại cất giữ và rất may không có sự hư hại nào. Khi giao nhiệm vụ lại cho người được tin tưởng kế nhiệm gìn giữ (ông Trợ), ông Trí khiêm tốn nói và cũng chính là lời dặn dò: “Việc lớn nhất đời tôi là đã giữ được nguyên vẹn những di vật quý báu của tổ tiên để lại!”.

Còn ở xóm Ấp Bắc, làng Kim Đái (nay thuộc xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ) còn lưu truyền câu chuyện về một người đã hi sinh cả thân mình để bảo vệ sự vẹn toàn gia phả của dòng tộc.

Sau chiến tranh, xóm Ấp Bắc chỉ có 45 nóc nhà nhưng có đến 70 liệt sĩ, 15 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cùng với địa đạo Kỳ Anh, địa đạo Ấp Bắc dài gần 2 cây số ẩn sâu dưới những lũy tre làng đã ghi dấu nhiều chiến tích vẻ vang của quân và dân trên vùng đất Tam Thăng. Ngày đó, trong xóm, ông Trương Đưa – trưởng tộc là một trong những người bám trụ nuôi giấu cách mạng, đào địa đạo đánh giặc thù. Và trong một lần, vào năm 1969, để bảo vệ cuốn gia phả của dòng tộc, ông đã hi sinh thân mình.

Hôm ấy xóm Ấp Bắc chìm trong lửa đạn. Lính Mỹ từ căn cứ Chu Lai mở cuộc hành quân càn quét vùng ven biển. Nhà thờ họ Trương bị đốt cháy. Là trưởng tộc, ông Đưa quyết bảo vệ cho được bộ phả hệ của dòng họ đang bị nguy cơ biến thành tro. Ông xông vào từ đường đang rực lửa ôm lấy ống tre đựng gia phả của dòng họ chạy thoát ra ngoài. Lính Mỹ tưởng Việt cộng ôm súng liền bắn theo. Ông Đưa trúng đạn nhưng vẫn cố chạy được qua vài đám vườn rồi ngã quỵ xuống một bờ đất trước khi tắt thở. Bộ phả hệ vẫn được ông ôm chặt trước ngực bằng đôi tay nhuốm đầy máu.
Sau trận càn, dân làng, vợ con đã chôn cất ông trong nước mắt và mang bộ phả hệ ấy về giữ cho đến ngày hòa bình…

Ông Trương Văn Cận – Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Quảng Nam là con cháu họ Trương xóm Ấp Bắc, làng Kim Đái. “Mỗi lần về quê, bước vào nhà thờ tộc, khi nhìn lại bộ gia phả của tộc họ vẫn còn đó nguyên vẹn, không ai cầm được nước mắt khi nhớ lại chuyện xưa. Câu chuyện của cụ Trương Đưa cho đến bây giờ luôn là bài học, là tấm gương cho con cháu những thế hệ tiếp theo trong dòng tộc” – ông Cận nói.

Giữ gìn gia phong cũng chính là giữ lại một phần quan trọng của văn hóa và lịch sử – nguồn cội của mỗi chúng ta. Nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học, xã hội học và cả sử học ngày nay đã dựa vào gia phả để thu thập các tài liệu liên quan đến những biến cố, quá trình di dân của các tộc họ, lối sống hoặc các xung đột, tiếp biến về văn hóa của các cộng đồng dân cư thuộc một giai đoạn lịch sử nào đó.

Những giá trị lưu giữ từ các bộ gia phả lâu đời đó, vì vậy không chỉ cần thiết trong phạm vi tộc họ, gia đình.

XEM TUỒNG TRONG LỄ KỲ YÊN
Như nhiều làng khác, làng tôi cũng có miễu làng (còn gọi là miếu làng) ẩn mình dưới gốc cây đa đọt đỏ cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Trong chiến tranh, tất cả các công trình kiến trúc và những cây lớn đều bị san bằng, nhưng cây đa và miếu làng lạ thay vẫn còn nguyên vẹn. Các cụ già kể, ngày xưa Thành hoàng thờ ở miễu. Đến lễ cúng làng mới rước về đình. Chẳng biết từ đâu mà miễu làng tôi gọi là miễu Ông Sỏi, tương truyền rất thiêng

Trước và trong chiến tranh, mỗi năm làng đều có hai lượt cúng miễu làng, gọi là “xuân thủ kỳ yên” vào đầu tháng 2 âm lịch và “thu tế kỳ yên” vào tháng 10 âm lịch. Lễ vào mùa xuân còn gọi là cúng Phước – Lộc – Thọ, một lễ rất quan trọng. Vào dịp đó, làng thường dựng sân khấu cạnh miễu làng và mời một gánh hát tuồng (dân gian hay gọi là hát bội) về diễn mấy đêm liền.

Theo phong tục từ xưa, các làng ở Quảng Nam đều có một ngôi đình thờ thượng đẳng linh thần do các nhà vua triều Nguyễn sắc phong hoặc thờ một vị thần vô danh gọi là thần hoàng bổn cảnh. Có nơi lại thờ một vị thánh như Quan Công, Nhạc Phi, bà Thiên Hậu, bà Ngũ Hành, bà Chúa Xứ, bà Cửu Thiên… để dân làng có nơi chiêm bái, cầu xin phúc lành. Lễ cúng kỳ yên còn gọi là lễ cầu an diễn ra vào đầu năm, cũng là lúc nông dân còn thong thả trước mùa thu hoạch. Bên cạnh lễ cúng cầu mong phúc lành cho năm mới là các hoạt động vui chơi, văn nghệ.

Lễ Kỳ yên ở miễu làng cũng như ở đình do một ban cổ lễ gồm các vị bô lão, hội đồng chư tộc trong làng đứng ra chủ trì, sách vở ghi là Ban Quý tế. Sau lễ tế cáo trời đất, cung thỉnh thánh thần, nguyện cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, vị cao niên uy tín nhất trong làng được mời làm chấp sự khởi lễ Xây chầu, đánh ba hồi trống, xướng lời cầu phúc cho dân làng. Tiếp đó là các lễ Đại bội, một diễn viên (mời của đoàn tuồng sắp diễn) đóng vai Thiên Lôi, múa bộ theo nhịp trống nhìn ra bốn phía, biểu thị cho việc mở cửa trời. Lại đến lễ xoang Nhật nguyệt, một nam diễn viên khác mặc mãng bào, đội mũ vua, râu bạc cùng nữ diễn viên đội mũ cửu phụng múa điệu âm dương phối hợp. Theo các nhà nghiên cứu phong tục, màn này tượng trưng cho quá trình “thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh ra vạn vật”.

Lễ tam tài cầu Phước – Lộc – Thọ cho dân làng với màn múa Thiên Vương gồm bốn diễn viên đầu đội kim khôi, mình mặc giáp trụ thực hiện điệu múa tứ trụ là cầu mong Quốc Thái Dân An – Gia Quan Tấn Tước – Phong Điều Vũ Thuận – Thiên Hạ Thái Bình.

Hôm mùng 10 tháng hai vừa rồi, tôi đưa hai nhà dân tộc học Nguyễn Tùng và Nelly Borowlsky (Trung tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp, chuyên ngành Đông Nam Á và Việt Nam) về thăm làng đúng vào giờ cúng Phước – Lộc – Thọ. Và chúng tôi quyết định đợi đến 8 giờ tối để xem đêm diễn đầu tiên với vở “Gió lộng hoàng cung”, do đoàn hát tuồng mời từ Tam Kỳ về diễn. Từ chiều, rạp hát đã được dựng lên, trang hoàng phông màn xanh đỏ sặc sỡ. Chưa đến giờ diễn, dân làng đã tập trung khá đông đảo. Nhiều người già cũng được con cháu dìu ra xem… Dưới sân cỏ, lũ trẻ con rượt đuổi nhau. Mấy chị tranh thủ khiêng bàn ghế ra bày bán quà vặt, nước uống, thuốc lá ở rìa sân.

Vào vở diễn, tiếng trống chầu dồn dập… Thẻ thưởng ném lên sân khấu rào rào khi diễn viên có những câu ca hay hoặc lúc diễn biến vở tuồng được đẩy lên đến đoạn cao trào kịch tính. Cậu bé nhặt thẻ thưởng chạy lon ton giữa các diễn viên. Mọi người chú mục vào từng động tác diễn và như nuốt vào lòng mỗi điệu hát. Càng lúc người xem càng đông, nhân dân ở các làng khác, xã khác cũng kéo đến xem. Dân làng thường đã thuộc các tích diễn, nhưng họ vẫn thích hát tuồng với nhiều lý do khác nhau. Có người thích nghe tiếng trống chầu; có người “ghiền” những đoạn ca hay và tài diễn của đào kép mà mình ưa thích; có người cảm thấy hứng thú nhất khi các anh hề xuất hiện, lúc đó họ được xem tài trong đối đáp của vai hề (màn này thường diễn ra vào lúc chuyển cảnh).

Anh bạn Nguyễn Hữu Khanh khá am hiểu các loại hình nghệ thuật truyền thống. Đoàn hát tuồng hôm nay về diễn lại khá quen thuộc với anh. Anh kể: Đoàn hát này gồm những diễn viên đã ngoài 60 – 70 tuổi, họ là những người đam mê, sống chết với nghệ thuật tuồng trước năm 1975. Đào chính trong vở “Gió lộng hoàng cung” nay cũng đã tuổi 65 nhưng giọng ca còn rất ngọt, động tác diễn vẫn khá mềm mại. Mấy chục năm trước bà đã diễn vai này trong đoàn dân ca kịch Túy Nguyệt nổi tiếng ở miền Trung một thời.

Cả đoàn hát về diễn ở làng trong hai đêm. Cả lớp diễn cho lễ Kỳ yên và chi phí đi lại, làm sân khấu, âm thanh ánh sáng… họ chỉ nhận thù lao mỗi đêm chưa đầy một trăm ký lúa. Diễn xong, họ ăn ngủ ngay trên sân khấu; hôm sau lại diễn tiếp… Trên đường chúng tôi về lại thành phố, anh Tùng nói: “Đây là một đêm thú vị. Vợ chồng tôi từng có một công trình nghiên cứu về hát tuồng. Và đêm nay, chúng tôi lại có thêm một trải nghiệm nữa cho thấy sức sống của tuồng trong nét sinh hoạt tinh thần ở nông thôn”…

Về làng quê có nhiều điều thú vị như vậy đấy. Chúng ta được hòa vào thiên nhiên, được nghe những câu chuyện kể, được hưởng phúc ấm tổ tiên và kết chặt thêm tình làng xóm, dòng tộc… Bởi vậy, bạn đừng hỏi vì sao tôi thường chạy xe về làng và ngủ đêm ở đó những ngày cuối tuần.