Trang chủ > bài viết > Thời điểm lịch sử nào để kỷ niệm sự ra đời của vùng đất Quảng Nam

Thời điểm lịch sử nào để kỷ niệm sự ra đời của vùng đất Quảng Nam

01/11/2010
Tiến sĩ NGÔ VĂN MINH  

(Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Phân viện Đà Nẵng)

Trong lịch sử hình thành tỉnh Quảng Nam, về mặt địa giới và hành chính, có mấy mốc thời gian đáng chú ý sau :

– Năm 1307, nhà Trần chính thức thu được một món quà sính lễ về cho Đại Việt. Đó là hai châu Ô, Lý “vuông ngàn dặm” của nước Chiêm Thành do phò mã Chế Mân dâng nộp. Để tiếp nhận hai châu này, vua Trần Anh Tông cho đổi châu Ô làm châu Thuận, châu Lý làm châu Hóa và sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến vỗ yên dân chúng bằng cách chọn người tại chỗ trao cho quan tước, lại cấp ruộng đất và xá thuế 3 năm (1). Châu Thuận bao gồm vùng đất từ huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị vào đến huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế hiện nay, Châu Hóa là vùng đất phía nam tỉnh Thừa Thiên – Huế cho đến tận bờ bắc sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam hiện nay.Nhưng sự bình ổn của vùng đất này kéo dài chẳng được bao lâu, vì hối tiếc một phần rộng lớn lãnh thổ phía bắc rơi vào tay Đại Việt lại bị người Đại Việt mưu giải thoát Huyền Trân nên sau khi Chế Mân chết, Chế Chí đem quân đánh lấn tìm cách chiếm lại vùng đất đã mất. Tháng 12 năm Tân Hợi (1311) vua Trần phải thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Từ đây cho đến năm 1390 vùng đất hai châu Thuận, Hóa trở thành nơi tranh chấp quyết liệt giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Đã nhiều lần quân Chiêm Thành đánh phá Thuận, Hóa và nhất là dưới thời Chế Bồng Nga quân Chiêm Thành còn đôi ba lần đánh ra tận Thăng Long. Quan quân nhà Trần phải nhiều lần chống trả rất vất vả. Tuy tháng 9 năm Mậu Thân 1368, quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình có tiến đến Chiêm Động của Chiêm Thành (phía nam tỉnh Quảng Nam hiện nay), nhưng lại bị quân Chiêm Thành mai phục, Trần Thế Hưng bị giặc bắt, Đỗ Tử Bình phải đem quân về (2).

– Đến thời nhà Hồ, sau khi sửa đắp xong đường Thiên Lý từ Tây Đô (Thanh Hóa) đến Hóa Châu, tháng 7 năm Nhâm Ngọ 1402 Hồ Hán Thương thân chinh đánh Chiêm Thành. Quân Chiêm chống không nỗi, vua Chiêm là Ba Dích lại sợ phải dâng đất Chiêm Động rút quân nhưng Hồ Quý Ly ép Chiêm Thành phải dâng cả Cổ Lũy Động (3). Nhà Hồ chia Chiêm Động làm bốn châu : Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Châu Thăng và Châu Hoa bao gồm vùng đất Chiêm Động, tức là các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Duy Xuyên hiện nay. Châu Tư và Châu Nghĩa bao gồm vùng đất Cổ Luỹ, tức là các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ của tỉnh Quảng Ngãi hiện nay. Vùng đầu nguồn Chiêm Động thì đặt trấn Tân Ninh bao gồm thượng nguồn các sông Thu Bồn, Vu Gia thuộc miền tây Quảng Nam hiện nay.Không phải chờ đến cuộc thân chinh của Lê Thánh Tông mới có đợt di dân “tòng chinh lập nghiệp” hay “bắc địa tùng vương” mà ngay vào lúc này Đại Việt sử ký toàn thư đã chép : tháng 12 năm Quý Mùi (1403) “Hán Thương đem những người không có ruộng mà có của dời đến Thăng Hoa, biên chế thành quân ngũ… đến năm sau đưa vợ con di theo”, và “Hán Thương mộ dân nộp trâu để cấp cho dân mới dời đến ở Thăng Hoa, người nộp được ban tước” (4).Như vậy, đến năm 1402 toàn bộ vùng đất thuộc Quảng Nam hiện nay đã thuộc về Đại Việt. Nhưng triều Hồ tồn tại không được bao lâu. Nhân lúc quân Minh sang xâm lược, nhà Hồ thất bại, từ tháng 5-1407 trở đi, Chiêm Thành đem quân chiếm lại Thăng Hoa rồi tiến ra cướp phá Hóa Châu. Phần lớn người Việt vừa mới di cư đến phải quay chạy ra Thuận Hóa. Vùng đất bốn châu : Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa lại bị Chiêm Thành chiếm giữ, phải mãi đến đầu năm 1446, dưới triều Lê Nhân Tông, quân Đại Việt do Lê Thụ chỉ huy mới đánh trở lại, tấn công vào tận Trà Bàn bắt vua Chiêm Thành là Bí Cai giải về Thăng Long. Tuy nhiên, trong buổi đầu của thời Lê sơ toàn bộ vùng đất từ đèo Hải Vân trở vào vẫn còn là đất ky mi chịu sự ràng buộc chứ chưa chịu sự quản lý trực tiếp của Đại Việt (5).

– Tháng 6 năm Tân Mão 1471, với cuộc nam chinh đại thắng, Lê Thánh Tông đánh chiếm vào tận núi Thạch Bi (Phú Yên) lập ra đạo thừa tuyên Quảng Nam và Thăng Hoa. Cái tên Quảng Nam xuất hiện từ đây, địa giới của nó bao gồm toàn bộ phía nam tỉnh Quảng Nam đến cuối tỉnh Bình Định ngày nay. Phần đất phía bắc tỉnh Quảng Nam hiện nay, lúc dó vẫn còn thuộc về Thừa tuyên Thuận Hóa. Đến năm 1490, vua Lê Thánh Tông tổ chức lại hệ thống hành chính chia cả nước ra làm 13 xứ Thừa Tuyên. Lúc này đạo Thừa tuyên Quảng Nam đổi thành xứ Thừa tuyên Quảng Nam (6).

– Năm 1602, Nguyễn Hoàng đặt tên gọi hành chính là dinh Quảng Nam bao gồm cả đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và Hoài Nhơn (7). Ba năm sau (l605), Nguyễn Hoàng lại cho tách huyện Điện Bàn thuộc phủ và sáp nhập vào dinh Quảng Nam (8). Lúc này, dinh Quảng Nam đã bao gồm toàn bộ đất của Quảng Nam và Đà Nẵng hiện nay, vào đến tận huyện Hoài Nhơn của Bình Định.

– Ngay sau khi chiếm dược Phú Xuân (1801), Nguyễn Ánh cắt riêng hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn đặt làm dinh Quảng Nam (9). Đây là lần đầu tiên toàn bộ vùng đất của Quảng Nam và Đà Nẵng hiện nay trùng khớp với địa giới hành chính (dinh). Có thể xem sự cắt dặt này từ chỗ chưa chính thống đến chính thống vì chưa đầy một năm sau nhà Tây Sơn mất, Nguyễn ánh lên ngôi lập ra triều Nguyễn thì tên gọi hành chính và địa giới của Quảng Nam vẫn dược giữ nguyên. Đến năm 1806, Quảng Nam dược xếp vào một trong bốn dinh của Kinh sư, gọi là Trực Lệ Quảng Nam dinh (10).

– Năm 1827 Minh Mệnh đổi thành trấn dinh, bỏ hai chữ “trực lệ”. Đến năm 1831 Minh Mệnh bắt đầu thực hiện cải cách hành chính ở các địa phương miền Bắc, chia 11 trấn Bắc thành ra làm 18 tỉnh. Tháng 10 năm 1832 Minh Mệnh tiếp tục chia đặt tỉnh ở phía Nam. Từ đây, trấn Quảng Nam trở thành tỉnh Quảng Nam (11). Nhưng khác với một số tỉnh khác, địa giới tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên như thời Gia Long. Đến năm 1834 Minh Mệnh chia cả nước thành 7 khu : Kinh Sư, Tả Trực, Hữu Trực, Tả Kỳ, Hữu Kỳ, Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Quảng Nam (và Quảng Ngãi) là hai trực tỉnh phía tả kinh sử nên còn gọi là các tỉnh Nam trực (12).

– Sau khi Pháp và triều đình Huế ký hiệp ước Patenôtre (6-6-1884), Toàn quyền Đông Dương Richaud dựa vào bản hiệp ước đó ép vua Đồng Khánh phải nhượng đất chủ quyền cho Pháp các thành phố : Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng. Ngày 27-8 năm Mậu Tý, tức ngày 3-10-1888 Đồng Khánh ký đạo dụ cắt Đà nẵng ra khỏi Quảng Nam làm thành phố nhượng dịa cho Pháp. Toàn bộ phần đất này bao gồm 5 xã tả ngạn sông Hàn : Hải Châu, Phước Ninh, thạch thang, Nam Dương và Nại Hiên Tây với tổng diện tích 10.000 ha (20.00 mẫu ta), 13 năm sau, thực dân Pháp lại gây sức ép buộc vua Thành thái phải ký một Đạo dụ vào ngày 25 -2 năm Canh Tý, tức 15-1-1901 nới rộng nhượng địa Đà nẵng ra các xã thôn Xuân Đán, Thạc Gián, Liên Trì, Bình Thuận, Xuân Hòa, Chính Khê, Đông Hà Khê, Yên Khê thuộc huyện Hòa Vang và Mỹ Khê, An Hải, Mân Thái, Nại Hiên Đông, Mân Quang, Vĩnh Yên thuộc huyện Diên Phước. Như vậy, qua hai lần cắt nhượng của triều đình Huế, Quảng Nam đã mất tất cả 19 xã, gồm 13 xã tả ngạn và 6 xã hữu ngạn sông Hàn (13)

– Ngày 6-9-1952 Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị định số 129/TTg sáp nhập thành phố Đà Nẫng vào tỉnh Quảng Nam, thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (14).

– Ngày 31-7-1962 chính quyền Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh số 162/NV thành lập trọng địa hạt tỉnh Quảng Nam một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Quảng Tín (15). Địa giới tỉnh Quảng Nam chỉ còn từ huyện Hòa Vang vào đến huyện Quế Sơn, địa giới tỉnh Quảng Tín từ huyện Thăng Bình trở vào giáp tỉnh Quảng Ngãi. Thành phố Đà Nẫng vẫn là một đơn vị hành chính trực thuộc chính quyền trung ương. Về phía ta, cuối năm 1962, Khu ủy V quyết định chia tỉnh uảng Nam – Đà Nẵng thành hai tỉnh : tỉnh Quảng Nam từ huyện Quế Sơn trở vào Tam Kỳ, tỉnh Quảng Đà từ huyện Duy Xuyên trở ra tới Hòa Vang, bao gồm cả Đà Nẫng (16).

Sau ngày thống nhất đất nước, thực hiện Nghị quyết số 245-NQ/TW ngày 20-9-1975 của Bộ Chính trị về việc bỏ khu, hợp tỉnh và Nghị quyết số 19/NQ ngày 20-12-1975 của Bộ Chính trị về việc điều chỉnh, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam, tháng 2-1976 Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Theo Nghị định này, tỉnh Quảng Nam và tỉnh uảng Đà hợp lại thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (17).

– Ngày 6-11-l996 trong kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã phê chuẩn việc tách tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng ra thành hai đơn vị hành chính : Thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương bao gồm ba đơn vị hành chính là thành phố Đà Nẵng (cũ), hai huyện Hòa Vang và Hoàng Sa. Còn lại 14 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã thuộc tỉnh Quảng Nam (18).

Từ quá trình hình thành và thay đổi địa danh, địa giới hành chính như trên, chúng ta cần nhắc mấy thời điểm sau : Thời điểm đánh dấu toàn bộ vùng đất Quảng Nam hiện nay thuộc về Đại Việt thời điểm xuất hiện tên gọi Quảng Nam. Thời điểm đánh dấu toàn bộ vùng đất Quảng Nam và Đà Nẵng hiện nay cùng nằm trong một đơn vị hành chính. Thời điểm đánh dấu toàn bộ vùng đất Quảng Nam và Đà Nẵng hiện nay giữ vững một đơn vị hành chính độc lập.

Là người nghiên cứu chúng tôi cho rằng, khi xét chọn thời điểm kỷ niệm một đơn vị hành chính chúng ta không nhất thiết phải căn cứ vào toàn bộ địa giới hành chính như hiện nay, bởi như thế hóa ra chúng ta lấy ngày tách tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (11- 1- 1996) làm ngày kỷ niệm sự ra đời của tỉnh Quảng Nam mà bỏ đi cả một quá trình hình thành trước đó, chúng ta cũng không nên căn cứ vào tên gọi “tỉnh” mà phải kết hợp cả tên gọi dịa phương gắn với cấp hành chính ngang cấp hành chính hiện nay để xét. Với cách chọn như vậy, trong các thời điểm kể trên, chúng ta nên lấy năm 1471 làm thời điểm đánh dấu sự ra đời của Quảng Nam bởi vì tên gọi Quảng Nam ngay từ lúc dó không phải của một châu, phủ, mà là của một đơn vị hành chính cao nhất cấp địa phương là thừa tuyên, cùng cấp với cấp tỉnh hiện nay. Hơn nữa, so với thời điểm 1402 tuy đánh dấu toàn bộ vùng đất Quảng Nam hiện nay thuộc về Đại Việt nhưng lúc dó vùng đất mới này chỉ chịu sự quản lý của Đại Việt trong vòng 5 năm. 66 năm tiếp theo nó lại nằm trong vòng kiểm soát của Chiêm Thành. Do đó, Đại Việt chưa ghi được dấu ấn sâu đậm trên vùng đất mới này. Chỉ đến năm 1471 mới thực sự mở ra thời kỳ ổn định lâu dài, tạo nên sự phát triển bền vững của vùng đất Quảng Nam. Và dù cho trong hơn 500 năm qua, địa giới Quảng Nam tuy có cắt bớt để thành lập các đơn vị hành chính khác như Quảng Ngãi, Bình Định, Đà Nẵng và có thêm vào (huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong nhập vào Quảng Nam 392 năm) nhưng tên gọi Quảng Nam gắn với cấp hành chính địa phương cao nhất vẫn không hề thay đổi. Nếu chấp nhận cách chọn trên, chúng ta sẽ có thể long trọng tổ chức kỷ niệm “Quảng Nam – 530 năm hình thành và phát triển” vào năm đầu thế kỷ 21 – năm 2001. Căn cứ vào các tư liệu lịch sử đã có, chúng tôi muốn nêu lên cách chọn thời điểm kỷ niệm ngày ra dời của vùng đất Quảng Nam là vào năm 1471. Rất mong các nhà sử học, các nhà nghiên cứu và địa phương có những cuộc tọa đàm hội thảo khoa học để thống nhất ngày ra đời Quảng Nam.

Tiến sĩ NGÔ VĂN MINH
(Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
– Phân viện Đà Nẵng)