Trang chủ > bài viết > Thanh Quýt

Thanh Quýt

01/11/2010

Thanh Quýt

Tác giả :Trương Điện Thắng

1
Thất tộc tiền hiền
Thuở rừng tre rừng duối
Đất bãi hiền hòa mà con sông dữ dội
Chảy tràn vào trang sử làng tôi…

Nhớ sông Lam, sông Mã xa xôi
Vợ chồng địu con trồng bông và dệt vải
Lập chợ lập làng
Dựng đình
Đan phên và cấy lúa
Cùng trai Hời u mọi dưới trăng
Cùng gái Hời đội nước đổ đầy chum
Mơ mùa lành cây trái
“Nhất Nguyễn nhì Lê tam Trương tứ Bá…” (1)
Gò Phật, gò Huề, gò Vàng (2), gò Tử…
Nơi nào cũng dẫm máu cha ông
Nơi nào cũng truyền thuyết lưu danh
Bên sông là xóm Chợ, xóm Trên
Cây đa bến Chùa cây cốc sân Lăng (3)
Mã Khóm mã Ông ngõ nhà thờ quan Thượng (4)
Qua xóm Rừng ghé chòm Côi, bến thờ Bà xóm Dưới
Cúng thần hòang tụ hội xóm Chay
Ngước nhìn hoa chim chim nở
Hoa bay tím mái đình
Như những giấc mơ…bay

2
Giấc mơ chưa thành
Chén cơm đầy khoai sắn
Lúa Đúc, lúa Trì, lúa Can nuôi đàn con chậm lớn
Ruộng rẻ nợ đòi
Nghẹn họng bát chè xanh
Như gầy tấm phên lương nửa chừng
Nan gãy
Lại cầm rựa chặt tre vót chông
Rèn dao theo quân ông Hường Hiệu (5)
Lại gồng gánh con trên hai đầu gióng
Đốt nhà băng ruộng tản cư
Lại trốn lính trốn xâu vào tù ra tội
Hết quận Thái đến hai Biên…(6)
Máu trẻ con, người già loang bầm chợ Vải
Những lũy tre làng gục đầu ái ngại…

Trai tráng cầm súng lên non
Người già đào hầm đêm đêm bám trụ
Kẻ dắt vợ ra Hàn người đưa con lánh về phố Hội
Thương những đời cầu qua Ngũ Giáp lìa đôi
Mười tám vị La Hán trên Chùa bom đánh sập còn đâu
Cây đa làng lặng im những mùa chim sáo
Ngôi đình làng mấy trăm năm mưa bão
Trận bão này tan hoang…

Đánh tan tành đồn Thanh Quýt là chị Tranh (7)
Đánh vào lương tâm Washington là người con trai tên Trỗi (8)
Có người mẹ nào trên thế gian này như mẹ Thứ (9)
Những tượng đài quê hương…

3
Quê hương của thất tộc tiền hiền
Từ bờ sông Lam sông Mã…
Quê của vải và quê thuốc lá
Quê của tre xanh dựng nhà, vót chông, chẽ nan đan ghe ra biển cả
Quê của trăm nghề
Là quê tôi…

Quê của trăm nghề hạt muối cắn làm đôi
Bát nước chè sủi tăm mời nhau
Thắm tình quê kiểng
Giàu nghĩa nhân mà sao hoài lận đận

Bỏ súng xuống lại dắt trâu ra ruộng
Gặp con rô con diếc cuối đường cày
Chim chiền chiện góc trời vừa hót vừa bay
Nhắc những giấc mơ lấm bùn thời nhỏ dại…

Bước lên bờ chưa phủi tay lại ngày gặt hái
Đất trăm nghề xin mẹ chớ bâng khuâng…

Từ bờ duối này có đứa đã lớn khôn
Từ bến sông này có người đã đi hết biển
Từ đường cày kia, những con chim chiền chiện
Vẫn hát những lời ngợi ca bình yên

Rồi chim sẽ về đậu ngọn tre xanh
Rồi thuyền sẽ những lần về đông bến cũ
Xóm Chợ, xóm Trên, xóm Rừng, xóm Chay, xóm Dưới…
Nhất Nguyễn nhì Lê tam Trương tứ Bá…
Có ai chẳng gọi quê mình là quê tôi…

Tháng 2/2005
T.Đ.T

Chú thích:

(1) Nguyễn Hữu, Lê Tự, Trương Công, Nguyễn Bá, Nguyễn Văn, Lê Công, Phan Sĩ là 7 tộc đầu tiên khai phá dựng làng ở Thanh Quýt. Tiền hiền các tộc này được thờ tại đình làng và 7 cây chim chim cổ thụ trước sân đình xưa được xem là biểu tượng của thất tộc.

(2) Nơi đây là một tháp Chàm đã đổ nát, đất có màu vàng đỏ của gạch cũ.

(3) Nơi có lăng mộ của Nguyễn Phúc Kỳ con trai trưởng của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, cai quản đạo thừa tuyên Quảng Nam, sau này được dùng lam sân bóng của làng.

(4) Thượng thư Trương Công Hy thời Quang Trung hiện lăng mộ là di sản lịch sử tỉnh Quảng Nam.

(5) Nhà yêu nước Nguyễn Duy Hiệu

(6) Nguyễn Quốc Thái, quận trưởng Điện Bàn và Lê Biên, chỉ huy lính Bảo An thời Ngô đình Diệm.

(7), (8), (9) Liệt sĩ Nguyễn Thị Tranh dùng xe bò chở phân ngụy trang đánh tan đồn Ngũ Giáp năm 1965 một cách táo bạo vào giữa trưa. Anh hùng liệt sĩ Nguyễn văn Trỗi. Mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ có 9 con, chồng và rễ ( 11 người) hy sinh trong chiến tranh.