Trang chủ > bài viết > Những bài viết về Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch

Những bài viết về Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch

31/10/2010

Gương hiếu học, yêu nước của một triều thần

Tác giả: Lâm Quang Thạnh

Trong không khí tưng bừng kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, tộc họ Nguyễn Hữu tại thôn Hòa Khê, xã Hòa Sơn tổ chức lễ kỷ niệm 65 năm Ngày chính quyền cách mạng làm lễ phá xiềng mộ Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch để cùng ôn lại tấm gương yêu nước và hiếu học của một người con ưu tú xã Hòa Sơn. Báo Đà Nẵng  giới thiệu đến bạn đọc tấm gương hiếu học, yêu nước này.

Nguyễn Hữu Lịch, thường gọi là Quan Khâm, người làng Khê Lâm, tổng Phước Tường thượng, nay là thôn Hòa Khê, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang. Nguyên tiên thế người đất Hải Dương theo chân vua Lê Thánh Tông vào Nam mở cõi, “đất lành chim đậu” ở làng Thanh Quýt, nay ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đến đời thứ 8, ông Nguyễn Hữu Sao lên vùng bán sơn địa, đất rộng, người thưa ở phía Tây Bắc huyện Hòa Vang khai hoang, lập xóm và được sắc phong Tiền hiền làng Khê Lâm. Ông có 6 cháu nội, người thứ 3 là Nguyễn Hữu Lịch rất ham học và được cha là Nguyễn Hữu Thành ưu tiên, chắt chiu, dồn sức cho ăn học. Trong vùng không có thầy, Nguyễn Hữu Lịch được cha gửi về tộc chính Thanh Quýt tìm thầy ở huyện Điện Bàn.

Tuy nhiên, Nguyễn Hữu Lịch quay về xin cha cho chuyển hướng qua sông Túy Loan, vào huyện Đại Lộc tìm thầy. Thuở ấy, con nhà nghèo đi học ở chính quê mình đã là khó khăn, rời làng quê ra đi tìm thầy xin học khác nào “muôn dặm đường xa tầm sư học đạo”. Phần lớn các thầy đồ đều nghèo, trò không thể dựa vào thầy nghèo để ăn học mà phải tìm được thầy nào nhà khá giả cần gia nô, có ruộng vườn cần phụ điền xin vào làm không công để được thầy cho học lúc nhàn rỗi. Nguyễn Hữu Lịch lặn lội đi xin học và quyết tâm học để thành tài. Năm 24 tuổi, tự lượng sức mình có thể đi thi, ông về quê xin lý trưởng làng Khê Lâm làm thủ tục lên trường huyện, trường tỉnh khảo thí, ghi tên vào danh sách “lai Kinh ứng thí”.

Nhưng lần khảo thí ấy không đạt, ông phải ngậm ngùi trở về cố công học tiếp. Đến ân khoa Mậu Thìn 1868 mới được lều chỏng vượt đèo Hải Vân đi thi và đỗ Cử nhân. Người học trò nghèo hiếu học thành danh trở về được dân làng đón rước linh đình, vinh quy bái tổ. Sau đó ông ra Kinh nhận nhiệm vụ ở Bộ Binh dưới quyền Thượng thư Tôn Thất Thuyết, dần thăng đến chức Lang Trung. Mỗi lần ở Huế về thăm nhà, người dân quê đều cảm phục đức độ của ông với tổ tiên, ông bà và bà con hàng xóm. Lần đầu về quê bằng kiệu qua đèo Hải Vân, vào đến quê mẹ Khánh Sơn là ông xuống kiệu đi bộ. Dân làng lấy chiếu trải xuống đường đón rước, ông không bước lên chiếu và ôn tồn nói: “Các cụ, các bác đừng làm thế, tôi là cháu ngoại làng ta, con cháu trong nhà cả mà”. Dân làng cảm động không giữ lễ nghi cách biệt nữa. Với giới trẻ, ông khuyên cố gắng học hành, quê mình nghèo, nước mình đang gặp nạn cần đến tài năng tuổi trẻ.

Ông luôn nhấn mạnh đến quốc nạn. Lúc bấy giờ quân Pháp đã chiếm xong lục tỉnh Nam Kỳ và đưa quân ra đánh Bắc Kỳ. Trong triều chia làm 2 phái chủ chiến và chủ hòa, ông tích cực đứng về phái chủ chiến của Thượng thư Tôn Thất Thuyết. Giữa lúc đó, vua Tự Đức băng hà, quân Pháp thừa cơ kéo hạm đội đến đánh chiếm cửa biển Thuận An, khiến triều đình hoảng hốt ký Điều ước Hác-măng nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và cắt 3 tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh nhập vào Bắc Kỳ trao cho quân Pháp.

Phái chủ hòa đã đành phải đầu hàng, quân Pháp lấn tới đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2 buộc triều đình phải ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884) đặt cơ sở lâu dài cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam. Để xoa dịu phái chủ chiến, Hiệp ước Pa-tơ-nốt có điều khoản trả lại 3 tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh cho Trung Kỳ. Nhân cơ hội đó, Thượng thư Tôn Thất Thuyết tiến cử Lang Trung Nguyễn Hữu Lịch làm Khâm sai Thanh-Nghệ-Tĩnh sung Đổng lý tỉnh Thanh Hóa. Phái chủ hòa cho đó cũng là dịp phân tán lực lượng của phái chủ chiến nên không phản đối.

Ra Thanh Hóa, quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch bắt tay ngay thực hiện kế hoạch chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Ông đã xây dựng nhiều đồn sơn phòng, ở miền Tây cả ba tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh, lập các đội quân “Đoàn kiệt” và “Phấn nghĩa” ra sức luyện tập chờ ngày quyết chiến với quân thù. Trên cương vị Khâm sai, ông đã vào Hà Tĩnh viếng thăm Tiến sĩ Phan Đình Phùng cùng làm quan trong triều vì xung đột giữa phái chủ chiến và chủ hòa phế lập các vua, bị cách chức về quê. Đến khi vua Hàm Nghi ra Tân Sở xuống hịch Cần Vương, Phan Đình Phùng hưởng ứng phất cờ khởi nghĩa Hương Khê; Phạm Bành, Đinh Công Tráng khởi nghĩa ở Ba Đình, Thanh Hóa, ông đã có nhiều hoạt động bí mật hỗ trợ.

Dưới áp lực của quân Pháp, năm Đinh Hợi 1887, ông bị vua Đồng Khánh ban 3 vật “tam ban trào điển” gồm chén thuốc độc, dải lụa và thanh kiếm buộc phải chết, xóa tên, mộ chôn không được dựng bia. Con cháu mãi sau này mới được tin lặng lẽ ra nhận mộ ở thành nội Thanh Hóa, lòng đau xót nhưng không dám bốc mộ về quê. Phải chờ hết đời Đồng Khánh mới dám bí mật bốc mộ lấy hài cốt rồi đắp lại mộ giả nguyên như cũ.

Trên đường về quê, ngày đi đêm nghỉ, tránh nơi tụ họp đông người, an toàn về đến Hố Quốc đặt mộ ở nơi hoang vắng giữa hai dãy núi quê hương. Nhưng không ngờ vua Thành Thái vẫn chưa tha, cho quan quân mang xiềng sắt về xiềng mộ, giao lý hương “quản thúc tại mộ”. Con cháu nén đau thương ra sức bảo vệ mộ, một mặt công khai lớn tiếng từ chối đây không phải mộ Quan Khâm nhà mình, mặt khác bí mật giữ xiềng sắt, sợ để mất đi tai họa sẽ ập đến như trường hợp cụ Phan Đình Phùng chết đi còn bị quật mộ, lấy hài cốt trộn thuốc súng bắn xuống sông. Cứ thế, 40 năm mộ bị xiềng xích hết đời vua này đến đời vua khác…

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng huyện Hòa Vang cử đoàn cán bộ, chiến sĩ về làm lễ phá xiềng, trả lại mộ cho con cháu, trả lại tên cho con cháu dựng bia, trả lại công bằng cho Quan Khâm là nhà yêu nước. Năm 2009, tấm gương hiếu học của nhà khoa bảng xuất thân là học trò nghèo vùng quê bán sơn địa cùng với tấm gương nhà yêu nước của Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch chính thức được ghi vào cuốn “Lịch sử đấu tranh cách mạng” của nhân dân xã Hòa Sơn.

Năm nay, trong không khí tưng bừng toàn dân kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, tộc họ Nguyễn Hữu long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 65 năm ngày chính quyền cách mạng làm lễ phá xiềng mộ Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch để cùng ôn lại tấm gương yêu nước và hiếu học của một người con ưu tú xã Hòa Sơn.

Ngôi mộ bị xiềng

Tác giả: VIÊN PHÚC QUÂN

Ngày đó, ở Hố Quốc, làng Khê Lâm, tổng Phước Tường thượng (nay là thôn Hòa Khê, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng) có một ngôi mộ bị xích cái xích sắt. Dân làng lên núi cắt tranh đi ngang qua không biết mộ của ai. Người ta xì xầm với nhau đó là mộ của Quan Khâm, một vị quan người tộc Nguyễn Hữu tiền hiền làng. Nhưng có người bảo không phải, vì gia đình tộc họ không công nhận.

Cụ Nguyễn Vinh, năm nay 104 tuổi, người cao niên nhất làng Khê Lâm hiện nay, kể rằng, cụ đem thắc mắc này hỏi ông Xã Sáu, tên thật là Nguyễn Hữu Dụng, cháu nội Quan Khâm, thì ông này cũng xác nhận là không phải. Một bữa, cũng vẫn lời cụ Vinh, ông Xã Sáu thấy có quan quân kéo đến nhà, bảo dẫn đi chỉ mộ Quan Khâm. Ông Xã Sáu nói ông nội đi làm quan rồi chết, không biết mộ phần chừ ở đâu. Quân lính đưa ông ra Hố Quốc, bảo ông nhận mộ ông nội, ông cũng lắc đầu từ chối. Cuối cùng, chúng đem ra một sợi xích sắt quàng lên mộ, giao hương lý trong làng và gia đình phải giữ xích không được để mất.

Mộ Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch và phu nhân hiện ở thôn Hòa Khê, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Theo cụ Vinh, lý trưởng sợ mất xích, hằng năm phái người đến cùng ông Xã Sáu đi tu tảo phần mộ, lại còn dặn phải sắm sửa lễ phẩm để khỏi bị vong linh người nằm dưới mộ quở trách. Cụ Vinh mấy lần theo vào Hố Quốc xem họ dọn mộ, lần nào cũng chỉ thấy một mình ông Xã Sáu, con cháu khác không một ai lai vãng.

Quan Khâm là ai? Vì sao mộ lại bị xiềng?

Đó quan Khâm sai Đại thần Thanh – Nghệ – Tĩnh Nguyễn Hữu Lịch (1840 – 1887) người làng Khê Lâm. Theo “Lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng xã Hòa Sơn” của Đảng bộ xã Hòa Sơn, khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, ông đã cùng Phan Đình Phùng, Cao Thắng tổ chức căn cứ Ngàn Trươi, phất cờ khởi nghĩa ở Hương Khê, Hà Tĩnh. Thất bại, ông bị triều đình Huế kết tội âm mưu làm loạn và tuyên án “tam ban triều điển”, ông chọn thanh gươm để giữ vẹn khí tiết.

Cụ Lâm Quang Thạnh, 84 tuổi, chắt ngoại Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch kể rằng, mộ ông cố ngoại của cụ được táng tại Thanh Hóa, tuy không có mộ chí vì đã bị vua xóa tên, nhưng được đánh dấu cẩn thận. Năm 1905, con cháu Quan Khâm bí mật đưa di cốt về an táng tại quê nhà. Đào mộ vào đêm khuya, bốc lấy hài cốt rồi đắp lại nguyên trạng. Đi bộ về quê, không dám đi tàu xe vì sợ bị lộ. Khi an táng Quan Khâm tại một nơi hoang vắng ở Hố Quốc, con cháu hết sức giữ bí mật, chỉ được thăm viếng từng người một, thắp hương thì phải chờ tàn hương, gói cả tro lẫn que mang về. Thế mà, không biết vì sao lại lộ thông tin ra ngoài, khiến vua Thành Thái sai quan quân kéo đến xiềng mộ?

Suốt 40 năm, người đã khuất núi vẫn chịu cảnh xích xiềng, nỗi oan trái chưa một lần gột rửa. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đoàn đại biểu Việt Minh huyện Hòa Vang do ông Châu Quang Thuyên dẫn đầu đã về Khê Lâm, phá xiềng, giải oan cho Quan Khâm. Cụ Lâm Quang Thạnh nhớ lại: Hôm đó, khu vực Hố Quốc được phát quang để đón khách. Cán bộ Việt Minh làng Khê Lâm, các đoàn thể Phụ lão cứu quốc, Nông dân cứu quốc, thanh niên, phụ nữ, có cả người xứ đạo và nhà chùa gần đó lũ lượt kéo về, ai cũng cầm một cây cờ đỏ sao vàng nhỏ trên tay.

Sau phần nghi lễ, Trưởng đoàn Châu Quang Thuyên phát biểu: Cụ Nguyễn Hữu Lịch là một đại thần một lòng chống Pháp, mà chống Pháp không phải là tội, chống Pháp là có công, là yêu nước. Ông lên án triều đình phong kiến đối xử với cụ vô nhân đạo và tuyên bố Việt Minh phá xiềng nô lệ giải phóng toàn dân, Việt Minh cũng phá xiềng giải phóng cụ, trả lại mộ cho cụ để con cháu nhận mộ, trả lại tên cho cụ để con cháu lập bia, trả lại công bằng cho cụ để mọi người biết chống Pháp là yêu nước.

Ông Xã Sáu thay mặt con cháu tỏ lòng biết ơn Cách mạng và tạ lỗi với dân làng vì đã nói dối không nhận đó là mộ Quan Khâm nhà mình. Con cháu không nhận mộ ông bà là bất hiếu, nhưng nếu nhận mộ e lại càng bất hiếu hơn, vì quan quân triều đình sẽ phá mộ như đã từng phá mộ cụ Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh.

Cụ Nguyễn Vinh, sau khi chứng kiến buổi lễ thiêng liêng đó, hằng năm trong lễ cúng đình, đều kể lại câu chuyện cảm động về một ngôi mộ từng bị xích xiềng và tỏ lòng tri ân vị quan yêu nước đã làm rạng danh quê hương mình.

Về vụ án “Tam ban triều điển”

Tác giả: Võ Thúc Loan

(14 – Ngô Thì Nhậm, Ngọc Trạo, TP Thanh Hóa)

Vụ án “Tam ban triều điển”, kể về một tấm gương lẫm liệt của người con xứ Quảng đã anh dũng kiên cường hy sinh cho Phong trào Cần vương – chống Pháp ở xứ Thanh. Dưới đây là câu chuyện do Tiến sĩ Lâm Quang Thạnh (1) kể lại.

Ông Nguyễn Hữu Lịch (1840 – 1887) quê ở làng Khê Lâm, tổng Phước Tường, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn Hòa Khê, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Ông là con thứ 3 của cụ Nguyễn Hữu Thành, trưởng phái nhất tộc Nguyễn Hữu. Lúc nhỏ theo thầy học chữ nho xa quê, đến năm 24 tuổi mới đi thi hương, đỗ cử nhân khoa Đinh Mão – 1867 niên hiệu Tự Đức thứ 19. Tuy khoa danh muộn nhưng ông là người đầu tiên khai khoa cho tổng Phước Tường, dân hàng tổng đón rước linh đình. Vinh quy bái tổ lúc này cũng là lúc triều đình đã ký Hiệp ước 1862 nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ và mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên cho Pháp.

Vinh quy bái tổ xong, ông ra kinh nhận nhiệm sở ở Bộ Binh dưới quyền Thượng thư Tôn Thất Thuyết, dần được thăng tới chức Trung Lang. Lúc này, thực dân Pháp đã củng cố chân đứng ở ba tỉnh miền Đông và đến tháng 6 năm 1867 đã cướp gọn 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ không phải nổ một phát súng. Triều đình không lo đánh giặc mà chỉ  ra sức điều đình thương thuyết để chuộc lại các tỉnh đã mất. Thực dân Pháp không những cự tuyệt thương thuyết mà còn lấn tới đưa quân ra Bắc đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh đồng bằng khiến triều đình phải ký Hiệp ước 1874 với những  điều kiện nặng nề hơn trước. Trong triều thì hai phái chủ chiến và chủ hòa xung đột gay gắt. Giữa lúc đó, vua Tự Đức băng hà (năm 1883). Quân Pháp thừa cơ kéo hạm đội đến đổ bộ đánh chiếm cửa bể Thuận An khiến triều đình hoảng hốt ký ngay điều ước Hacmăng (1883) chính thức nhận quyền bảo hộ của Pháp và cắt 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh nhập vào Bắc kỳ trao cho quân Pháp. Phái chủ hòa đã thành phái đầu hàng thực dân Pháp. Được thể Pháp lại lấn tới đánh chiếm Bắc kỳ lần thứ hai buộc triều đình ký thêm Hiệp ước Patenôt (1884) đặt cơ sở lâu dài cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam.

Để xoa dịu, phái chủ chiến do Thượng thư Tôn Thất Thuyết đứng đầu, nhân cơ hội trong Hiệp ước Patenôt có điều khoản trả lại Thanh – Nghệ – Tĩnh cho Trung kỳ, thượng thư nhân đó tiến cử ông Nguyễn Hữu Lịch làm khâm sai đại thần 3 tỉnh Bắc miền Trung (Thanh – Nghệ Tĩnh) sung chức Đổng lý tỉnh Thanh Hóa. Phái chủ hòa trong triều lại cho đó là dịp tốt để phân tán lực lượng chủ chiến ra xa nên không phản đối. Thời gian trước đó ở Kinh Thành ông đều về quê thờ cúng ông bà và chăm sóc cha mẹ nhưng từ khi nhận chức ở Thanh Hóa, do công việc bộn bề cho đến lúc tuẫn tiết trong thành nội Thanh Hóa cũng chưa có dịp nào trở lại quê hương Quảng Nam.

Ra Thanh nhận chức như chim được sổ lồng, với cương vị khâm sai đại thần Đổng lý Nguyễn Hữu Lịch đã bí mật ngày đêm tích cực thực hiện kế hoạch của Thượng thư Tôn Thất Thuyết chuẩn bị cơ sở cho cuộc kháng chiến lâu dài. Ông đã xây dựng nhiều đồn sơn phòng ở miền Tây cả ba tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh, lập các đội quân “Đoàn kiệt” và “Phấn nghĩa” ra sức luyện tập chờ ngày quyết chiến với quân thù. Ông đã vào Hà Tĩnh viếng thăm Tiến sĩ Phan Đình Phùng và Cao Thắng, hưởng ứng phất cờ khởi nghĩa Hương Khê. Ở Thanh Hóa, Phong trào Cần vương dấy lên sôi nổi và mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của các văn thân yêu nước Phạm Bành, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng và các tù trưởng Hà Văn Mao người dân tộc Mường, Cầm Bá Thước người dân tộc Thái, vv… Lập căn cứ Ba Đình trên địa bàn ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh thuộc huyện Nga Sơn.

Đổng Lý Nguyễn Hữu Lịch đã ra sức cổ vũ phong trào yêu nước chống xâm lược ở cả 3 tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh, hưởng ứng hịch Cần Vương nhưng vẫn phải thận trọng giữ thế với phái chủ hòa trong triều nên chỉ bí mật đứng đằng sau tích cực hậu thuẫn cho nghĩa quân, nhất là với tỉnh Thanh Hóa – nơi phong trào phát triển sâu rộng và mạnh mẽ hơn. Ông đã dồn sức giúp đỡ xây dựng một cứ điểm kiên cố để chỉ đạo thống nhất toàn tỉnh và một căn cứ hậu bị đề phòng rút lui khi cần. Đó là cứ điểm Ba Đình giữa vùng chiêm trũng mênh mông và căn cứ sơn phòng Mã Cao trên vùng núi trùng điệp phía tây.

Năm 1887, nghĩa quân Thanh Hóa thất bại ở Ba Đình rút lên Ma Cao, thực dân Pháp cũng bị thiệt hại nặng nề khi phải huy động đến 3.000 quân thuộc mọi binh chủng, có trọng pháo và pháo hạm yểm hộ ngày đêm vây hãm mới đánh chiếm được Ba Đình. Chúng đã hèn mạt trả thù bằng cách triệt hạ cả 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh xóa tên trên bản đồ của Nam Triều và bắt triều đình hoạch tội Đổng lý Nguyễn Hữu Lịch bằng bản án tuyên vắng mặt “Tam ban triều điển” (gồm chén thuốc độc, một dải lụa để tự thắt cổ và một thanh kiếm để tự sát). Ông đã bình thản đón nhận 3 vật “tam ban” từ Huế mang ra (do vua Đồng Khánh ban cho để tự chọn). Không hướng về Kinh Thành mà hướng về căn cứ sơn phòng Phú Gia (huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) nơi vua Hàm Nghi đang ngự tránh, bên cạnh khu Ngàn Trươi của nghĩa quân Phan Đình Phùng kính cẩn vái lạy. Song, ông quay lại phía thuộc hạ lưu luyến làm hiệu vĩnh biệt rồi bưng “tam ban” vào phòng đóng chặt cửa. Sáng hôm sau phá cửa vào thấy ông đã dùng kiếm tự sát trong tư thế ngồi uy nghi lẫm liệt. Một cái chết bi hùng kết thúc cuộc đời cương trực của một chí sĩ chống Pháp kiên cường giữa chốn triều đình bán nước. Ấy là vào năm Đinh Hợi – 1887 trước năm Hàm Nghi sa lưới giặc bị đầy sang Algerie.

Những ngày sau đó, một thuộc hạ thân cận của ông đã cẩn thận đánh dấu phần mộ nhưng mãi năm sau mới dám lặng lẽ đưa con trai ông là Nguyễn Hữu Sinh từ Quảng Nam lặn lội ra Thanh Hóa nhận mộ. Một nấm cỏ xanh rờn giữa bốn bề vắng lặng, không bia mộ, không hương khói trong thành nội Thanh Hóa…

Phải chờ đến hết đời Đồng Khánh đến vua Thành Thái khi các cuộc khởi nghĩa của Phong trào Cần vương ở Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh chấm dứt, con cháu ông mới bí mật ra Thanh Hóa bốc mộ đưa hài cốt về Khê Lâm. Mộ ông ở quê nhà cũng chỉ là mộ đất không đặt bia để giữ bí mật nhưng không ngờ một hôm quân lính triều đình đã mang xiềng xích sắt và tập hợp hương hào, tổng lý kéo đến xiềng mộ ông giao cho địa phương quản thúc phần hài cốt lẫn vong linh. Thật là tột cùng của sự dã man hèn hạ của bọn phong kiến thực dân.

Rất tiếc là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ liên miên khiến tên tuổi ông ít người nhớ đến. Ông là một chí sĩ kiên cường giữa chốn triều đình mục nát, kiên trì chống Pháp ngay từ thuở ban đầu trên đất xứ Thanh và tuẫn tiết ra đi cũng ở trên mảnh đất thiêng này. Chiến công của ông đã tô thắm thêm tình kết nghĩa keo sơn chiến đấu giữa hai tỉnh Quảng Nam – Thanh Hóa từ những năm tháng kháng chiến gian khổ, đi trước thời đại từ thuở ban đầu Phong trào Cần vương chống Pháp.

(1)   Tiến sĩ Lâm Quang Thạnh là Tổng Giám đốc Bộ Ngoại thương cũ đã về hưu, nay thường trú ở làng Cẩm Toại, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.


%d bloggers like this: