Trang chủ > bài viết > Chuyện một người tù khổ sai

Chuyện một người tù khổ sai

31/10/2010

Chuyện một người tù khổ sai

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG
(Ghi theo lời kể của ông Nguyễn Hữu Bì)

Ông Nguyễn Hữu Bì, nguyên Huyện ủy viên Huyện ủy Điện Bàn, là cựu tù khổ sai Côn Đảo từ năm 1966 cho đến khi được trao trả sau Hiệp định Paris. Trong tù, mặc dù bị đánh đập đến bại liệt cả hai chân, ông vẫn là một tấm gương đấu tranh kiên cường, đứng vững trước những đòn thù man rợ nhất. Câu chuyện ông kể sau đây không chỉ nói về mình, nó còn phản ánh một giai đoạn lịch sử và những số phận đáng cho thế hệ trẻ suy ngẫm; đặc biệt qua câu chuyện của ông và các tư liệu chúng tôi thu thập được còn cho thấy bằng chứng đã có một cuộc mưu sát “quốc trưởng” Bảo Đại vào cuối năm 1949 tại Quảng Nam…

BÀI 1: BỊ THỦ TIÊU DO MƯU SÁT BẢO ĐẠI

Ngược dòng lịch sử

Năm 1947, cựu trùm mật thám Pháp ở Đông Dương là Cousseau đã tiếp xúc với Bảo Đại tại Hồng Kông. (Sau khi vị vua cuối cùng của triều Nguyễn từ bỏ vai trò Cố vấn Chính phủ của Hồ Chí Minh và vai trò đại biểu Quốc hội khóa I để ở lại Trung Quốc rồi bỏ sang Hồng Kông “du lịch”). Cousseau ngỏ ý mời ông về nước nắm quyền, hình thành nên “giải pháp Bảo Đại” để chống lại cuộc chiến giành độc lập của phong trào Việt Minh.

Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại đã gặp gỡ Cao ủy Pháp Bollaert ở vịnh Hạ Long. Bản tuyên ngôn Hạ Long ra đời, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập của Việt Nam.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp phải trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.

Ngày 24 tháng 4 năm 1949, Bảo Đại về nước. Hai tháng sau, vào ngày 14 tháng 6, Bảo Đại tuyên bố tạm cầm quyền cho đến khi tổ chức được tổng tuyển cử và tạm giữ danh hiệu Hoàng đế để có một địa vị quốc tế hợp pháp. Ngày 1 tháng 7 năm 1949, Chính phủ lâm thời của Quốc gia Việt Nam được thành lập, tấn phong Bảo Đại là Quốc trưởng…(trích theo Daniel Grand Clément: Bảo Đại hay vị vua cuối cùng của Vương quốc An Nam, NXB Phụ Nữ).
Cuối năm 1949, Bảo Đại có đến Quảng Nam và dừng chân ở thị trấn Vĩnh Điện (Theo nhà nhiếp ảnh Vĩnh Tân – Thái Tế Thông, đây là lần thứ 2 ông đến Vĩnh Điện, lần trước vào năm 1934 Bảo Đại cũng đến thăm Hội An và Vĩnh Điện). Hiện nay nhà nhiếp ảnh Vĩnh Tân ở Hội An còn lưu giữ một bức ảnh chụp Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế cổ mượn và đưa từ Hội An lên Vĩnh Điện để đón vua, chưa rõ bức ảnh này chụp lần trước hay lần sau?

Chính thời gian này, trên khắp nước đã có nhiều bài vè nhiều khẩu hiệu được phổ biến chống lại “giải pháp Bảo Đại”. Tại Quảng Nam, cũng có nhiều cụ già từng thuộc, như:

Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về
Nguyễn về để đóng vai hề tay sai…
Gái đẹp cùng với rượu Tây
Quốc trưởng mê gái liếm giấy thực dân
Khi nào súng nổ đâu đây
Bù nhìn Bảo Đại tan thây có ngày…

Hay một truyền đơn lúc đó lên án:

“Hỏi rằng: ai đã long trọng thề trước dân chúng: “Thà làm công dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”.

– Đó chính là Bảo Đại!

Ai đã nhận nhiệm vụ làm cố vấn tối cao cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa rồi trốn ra nước ngoài, ăn chơi trác táng?

– Đó chính là Bảo Đại!

Ai đã xin tiền của Pháp, Mỹ để sống xa hoa, đàng điếm và để trả ơn quan thầy, đã quỳ gối ký các hiệp định Vịnh Hạ Long và hiệp ước Auriol?

– Đó chính là Bảo Đại!

…Tên vua đó phải bị toàn dân Việt Nam nghiêm trị!

Đả đảo tên phản bội Bảo Đại!

Đả đảo Bảo Đại bán nước!

Đả đảo Bảo Đại mất gốc!

Đả đảo Bảo Đại rước voi về giày mả tổ!

Bảo Đại về Quảng Nam trong không khí chống đối rộng rãi và mạnh mẽ như thế của người dân. Cho nên an ninh được siết chặt những nơi ông đến để ngăn chặn những hậu quả xấu về sự an toàn của “quốc trưởng”có thể xảy ra.

Vụ mưu sát Bảo Đại 60 năm trước

60 năm sau ngày ấy (1949-2008),về các vùng nông thôn Điện Bàn, người ta thỉnh thoảng vẫn nghe những cụ già đọc cho bài hát về em Lỳ sau đây:

Gương trong trẻo người em trai trẻ
Rọi thấu lòng bao kẻ tuổi thơ
Lòng nấu nung từ lúc bấy giờ
Nam chí khí tâm can đầy uất hận
Trong gian khổ âm thầm em hành động
Giúp tình hình cho cán bộ đã 3 năm
Rõ ràng thay chí trẻ hờn căm
Khi vắng bóng ai ai đều ghi nhớ

Gương niên thiếu đời đời không lợt
Dòng sử vàng ghi tạc muôn năm
Em Lỳ tuổi mới mười lăm
Mà lòng nung nấu hờn căm chứa đầy
Gia đình thiếu hụt tháng ngày
Sống trong cảnh khổ không lay tinh thần
Từ ngày giặc chiếm bàng lân
Gây cho làng Thanh Quít trăm phần đắng cay

Cán bộ hành động quá gay
Cơ sở ẩn núp tháng ngày vô danh
Lòng em nay vẫn trung thành
Em làm liên lạc trí nhanh vô cùng
Mặc cho bọn giặc đi lùng
Đi lại lên xuống ai hình dung được gì
Đồng bào ai nấy sinh nghi
Tưởng rằng em theo giặc
Vậy thì phen nay…

Lễ hoan tống thằng Bảo Đại hồi loan Vĩnh Điện
Lúc ấy em gần các anh ở huyện
Nghe những lời kế hoạch đề ra
Em mới xin một lựu đạn, vậy mà
Quyết lòng xuống tận… tung ra phen này
Trên đường em quyết phân thây
Nhưng đến nơi hết kế vì chúng giữ gìn sít sao

Lòng em lúc ấy nao nao
Nhưng đành quay lại biết bao nỗi buồn
Về chưa đến nhà giặc đã theo lùng
Chúng vây em lại lục cùng quanh thân
Lòi ra quả lựu đạn chần ngần
Chúng trói siết lại dẫn em về đồn
Khảo tra đánh đập dập dồn
Em vẫn bình tĩnh tỏ trí khôn phen này

Lũ giặc thật đáng tanh hôi
Đánh em da thịt nát nhồi còn chi
Tấm gương anh dũng ngại gì
Lòng em yêu nước phen ni rõ ràng
Thật là đứa trẻ to gan
Ba tháng tra khảo vẫn kiên gan quyết thề
Em giữ gìn manh mối trọn bề
Lòng trong giữ vẹn lời thề nước non

Năm 49, tuổi chưa tròn mười sáu
Trong xà lim dấu máu đỏ tươi
Xung quanh tường nổi bật “Bác Hồ muôn năm”
Thù này chứa chấp hờn căm
Em đi như ánh trăng rằm sáng soi…

Theo lời kể của người em ruột liệt sĩ Nguyễn Hữu Lỳ là ông Nguyễn Hữu Bì và nhiều cụ già ở Điện Bàn, đây là bài hát vè do ông Lê Tự Kình sáng tác ngay sau khi anh bị thủ tiêu. Ông ấy là người dìu dắt, chỉ huy và giao nhiệm vụ ám sát vua Bảo Đại. Lúc đó, ông Kình là Huyện ủy viên phụ trách an ninh Huyện đội Điện Bàn và Lỳ là liên lạc của ông. Ông Kình sau đó bị đày Côn Đảo, đấu tranh tuyệt thực đến ngày thứ 23 thì hy sinh năm 1964. Con trai ông là Lê Tự Nhất Thống được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang).

Cũng theo ông Nguyễn Hữu Bì, anh mình từng làm liên lạc từ năm 13 tuổi, cả học và đá bóng đều giỏi. Lại thông minh lanh lẹ. Tại sân đồn Hương Sen bên đầu cầu Ngũ Giáp, ông thường trà trộn vào đá banh với bọn lính và nhiều lần lợi dụng sự thiếu cảnh giác của chúng, đã bí mật rải truyền đơn kêu gọi bọn lính bỏ ngũ đi theo Việt Minh. Khi gia đình ông hồi cư về làng năm 1947, cả nhà sốt rét nằm một chỗ, tuy còn nhỏ, một mình Lỳ vẫn ngồi xe chỉ, dệt vải thay người lớn và đem ra chợ bán lấy tiền mua gạo…

Trong lúc ông Lỳ bị giam ở nhà lao Vĩnh Điện, gia đình phải mang cơm vào mỗi ngày giao cho lính gác ở đầu cầu cách xa nhà giam. Lính gác nhận cơm, kiểm tra gắt gao rồi giao lại cho lính nhà giam đưa vào cho tù nhân. Gia đình chỉ có thể nhìn thấy người thân ở tù của mình những hôm chúng dẫn họ ra tắm trên sông Vĩnh Điện. Những tù nhân bị còng hoặc trói lại khi dắt đi. Ra tới bến sông Vĩnh Điện, gần chợ, mới được tháo còng và đưa vào một hàng rào kẽm gai quây tròn dưới sông để… tắm. Tắm xong lại còng và trói rồi dẫn về nhà giam. Cha mẹ, người thân phải giả dạng vào các quán gần đó ăn mì để nhìn con mình từ xa. Thật là một cảnh đau lòng!

Sau ba tháng giam cầm không khai thác được gì, cuối năm 1949, Nguyễn Hữu Lỳ cũng hai người tù nữa bị dồn lên xe chở đến bến đò Vân Ly (khu vực xã Điện Phước hiện nay) để thủ tiêu. Đến nay vẫn không tìm được xác.

Ông Bì kể lại: “Sau khi nghe anh Lỳ bị thủ tiêu, mẹ tôi vào Vĩnh Điện tìm xác thì được bà con kể rằng trong ba người bị chở đi vào lúc gần tối, cậu thiếu niên nhỏ tuổi nhất không chịu đi mà đòi phải bắn ngay trên sông Vĩnh Điện để có chết thì xác cũng trôi về làng cho cha mẹ chôn cất! Khi chúng đẩy đi tiếp, mọi người còn nghe cậu thiếu niên đó hô to nhiều khẩu hiệu chống Bảo Đại, ủng hộ Việt Minh…”.

Cùng với những lời kể, bức ảnh của ông Thái Tế Thông (nếu chụp vào năm 1949), bài hát của ông Lê Tự Kình và tấm bằng Liệt sĩ của ông Nguyễn Hữu Lỳ, chúng ta có thể thấy đã có một cuộc mưu sát Bảo Đại tại Quảng Nam vào cuối năm 1949 khi ông này về nước theo “chiêu bài Bảo Đại” của Pháp. Ngoài ra, có một chi tiết thú vị là, trong cùng một xóm Dưới làng Thanh Quýt ấy đã có 2 thanh niên bị xử bắn vì cùng một tội mưu sát nổi tiếng cách nhau khoảng 15 năm. Đó là vụ mưu sát Mac Namara của Nguyễn Văn Trỗi năm 1964 mà nhiều tài liệu lịch sử đã ghi chép cẩn thận, và trước đó là vụ mưu sát Bảo Đại của Nguyễn Hữu Lỳ vào năm 1949.

Kỳ 2: Làng quê sau ngày hồi cư

Cách mạng Tháng Tám thành công, Trảng Nhật (nơi giáp ranh Điện Thắng – Điện Hòa của Điện Bàn) trở thành nơi tập luyện cho anh em bộ đội Vệ quốc đoàn. Cha ông Bì đi hoạt động liên miên, còn mẹ ông ngày đêm tham gia việc nấu cơm nước cho bộ đội. Đầu năm 1947, mặt trận Thái Phiên (Đà Nẵng) bùng nổ. Có lệnh tản cư, gia đình ông Bì và cả làng rầm rập ra đi, kẻ gồng người gánh. Thanh Quýt đã trở thành vùng tạm chiếm. Giặc Pháp xây dựng đồn bốt khắp nơi, đồn Trường Giảng, đồn Năm Ngọn, đồn Hương Sen ( Ngũ Giáp)…

Vừa lên 8 tuổi tôi đã theo bà nội và mẹ mang cơm vào tù nuôi anh hai Thông bị địch bắt giam tại nhà lao Vĩnh Điện (Điện Bàn). Khi Nhật – Pháp đánh nhau, làng Thanh Quýt (lúc đó là tổng Thanh Quýt) trở thành nơi tập trung của bọn tay sai từ các làng khác kéo về, cũng là nơi người dân ngày đêm bị bắt đi làm xâu, gánh đất xây dựng sân bay ở Trảng Nhật và bị đòn roi không kể xiết… Ngày hôm trước trong nhà lý trưởng treo lá cờ tam tài và con gà trống Gaulois, thì hôm sau đã tháo xuống và thay bằng lá cờ trắng có hình mặt trời của nước Nhật. Bọn tay sai bữa trước còn quì gối lạy quan thầy Pháp thì hôm sau lại cúi lạy bọn Nhật. Lũ trẻ trong làng rủ nhau đi xem bọn Nhật làm sân bay ở phía đầu xóm Rừng (nay gọi là Trảng Nhật). Một lần, chúng tôi vô cùng thích thú khi nhìn anh Lê Tự Kình đánh thằng lính Nhật đầu trọc trên con đường đắp trước đình Thanh Quýt. Chúng tôi hò reo cổ động như cảnh bây giờ ta cổ động cho đội tuyển bóng đá Việt Nam lúc ghi bàn vào lưới Thái Lan vậy. Không rõ vì sao lúc đó anh Kình đã gí cây kiếm vào đầu thằng Nhật mà lại không giết nó đi…

Một hôm tôi hỏi bà nội:

– Sao bà không đem cơm vào trại giam cho anh Hai nữa?

Bà bảo:

– Anh Hai mày đã vượt ngục rồi, nhưng không  biết nó đi đâu…

Cách mạng Tháng Tám thành công, Trảng Nhật (một địa danh nổi tiếng của Điện Thắng, Điện Bàn – NV) trở thành nơi tập luyện cho anh em bộ đội Vệ quốc đoàn. Cha tôi cũng đi hoạt động liên miên, còn mẹ tôi ngày đêm tham gia việc nấu cơm nước cho bộ đội. Đầu năm 1947, mặt trận Thái Phiên (Đà Nẵng) bùng nổ. Có lệnh tản cư. Gia đình tôi và cả làng rầm rập ra đi, kẻ gồng người gánh. Đứa em nhỏ ngồi ở một đầu thúng trên đôi gánh của mẹ, trong khi tôi chạy chân đất, lúp xúp theo sau. Thanh Quýt đã trở thành vùng tạm chiếm khi gia đình tôi quay về. Giặc Pháp xây dựng đồn bốt khắp nơi. Đồn Trường Giảng, đồn Năm Ngọn, đồn Hương Sen (Ngũ Giáp)…

Ngay sau khi bắt được anh Lỳ, bọn lính ra Thanh Quýt lùng bắt cả cha tôi về giam ở đồn Hương Sen. Chúng đốt hết nhà cửa nên mẹ tôi phải dắt đàn con chạy sang nhà hàng xóm ăn ở nhờ. Một hôm cha tôi vượt ngục về nhà, từ biệt vợ con rồi ra đi. Cuối năm đó, tin dữ đưa về: Cha tôi đã bị Tây bắn chết. Tôi theo mẹ xuống nổng Trang (ở vùng cát xã Điện Nam) tìm cha thì chỉ thấy một nấm mồ với mấy chữ đơn sơ  “Phần mộ đ/c Nguyễn Hữu Nì”. Mẹ tôi ngã xuống nổng cát như người mất vía! Sau khi anh Lỳ tôi bị địch thủ tiêu, cái chết đột ngột của người cha đã làm cõi lòng mẹ tôi tan nát…

Liền sau hai cái tang cha và anh, bọn lính lại ra Thanh Quýt vây ráp, đốt nhà tôi lần nữa và bắt chị gái thứ tư của tôi là Nguyễn Thị Mỳ về đồn tra tấn. Chị Bốn Mỳ lúc này là lao động chính của gia đình với nghề canh cửi giúp mẹ nuôi em. Chúng bắt chị ra khỏi nhà thì mẹ tôi cũng đổ sập xuống vì một cơn đột quỵ. Mẹ chết đi sống lại nhiều lần vì không chịu nổi những nỗi đau dồn dập của gia đình. Anh em chúng tôi như chim mất đàn. Em kế tôi đi ở đợ. Tôi đi nhặt phân trâu ngoài đồng về đổi gạo nuôi mẹ. mấy đứa nhỏ hơn tản mát đứa một nơi, sống nhờ bà con làng xóm. Ông Chánh Lượng lúc đó là lý trưởng nhưng do cách mạng đưa vào (cuối năm 1948 ông đưa bộ đội về đánh tan đồn Ngũ Giáp) đã đứng ra xin cho chị Bốn Mỳ ra tù. Nhà tôi lúc này là ba người phụ nữ quá bất hạnh: mẹ đau tiều tụy nằm một chỗ, chị quằn quại với những vết thương do bị tra tấn và bà nội già yếu vừa mất đi hai đứa con trai. Sự đau thương đổ xuống gia đình tôi lúc này chẳng sao kể xiết. Phía nhà ngoại lại tản cư chưa trở về nên chẳng biết chia sẻ cùng ai…

Một kỷ niệm mà suốt đời tôi không thể nào quên. Vào một đêm tối trời, mẹ tôi đặt bàn hương án giữa sân. Mẹ quỳ trước, chị em chúng tôi quỳ phía sau. Ông bà nội tôi đứng chắp tay hai bên. Ông nội tôi khấn vái còn bà thì nhắc các cháu sụp lạy và phục khăn tang cho cha và anh… Còn gì đau đớn bằng tất cả những người thân ra đi mà không hề thấy mặt!

Những năm 1949-1950 chúng tôi dần trưởng thành. Mẹ khuyên mỗi đứa hãy ra tham gia công tác. Mẹ cũng phục vụ kháng chiến, đưa anh em du kích về vùng tạm chiếm trong đêm để đánh địch. Tôi vào Ban địch vận xã Điện Hòa. Khi hòa bình lập lại vào tháng 7-1954, nỗi vui chưa hết thì bọn ác ôn tề ngụy ở địa phương lại bắt đầu đánh phá. Nhiều người di cư từ miền Bắc vào chưa có nhà, chúng đuổi những gia đình có người thân theo cách mạng ra vườn để lấy chỗ cho người di cư đến. Những vụ bắt bớ, đánh đập, tra tấn diễn ra hàng đêm. Cuộc đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử của nhân dân diễn ra tại Miễu Khuôn đã bị đàn áp dã man, Ủy ban kiểm soát đình chiến phải đến tận nơi can thiệp mới chấm dứt. Học tập tố Cộng, bắt cha mẹ từ con tham gia cách mạng diễn ra như cơm bữa.

Mẹ tôi và tôi cũng bị bắt lên đình Thanh Quýt. Hai mẹ con bị giam hai nơi riêng biệt trong đình. Chúng bảo mẹ tôi viết giấy từ con (anh Hai Thông vượt ngục nay đã đi tập kết ngoài Bắc). Mẹ tôi uất ức la lớn:

– Đạo lý con người để đâu mà lại từ con mình đẻ ra? Bọn bay làm được chớ tao không bao giờ làm!

Chúng lại lôi mẹ tôi ra đánh và bắt bà lấy hai chai thủy tinh nhỏ để gánh nước đổ cho đầy cái hồ lớn thì mới được về. Đó là một trò hết sức phi lý. Mẹ tôi chỉ tay vào mặt tên xã trưởng và tên thẩm vấn  thét lên:

– Tao không làm được! Mày về hỏi cha mẹ mày có làm được việc đó không? Nếu cha mẹ mày làm được thì tao mới làm…

Trước thái độ cứng rắn đó của bà, chúng đuối lý và quay qua bắt tôi viết giấy từ anh. Tôi trả lời:

– Tôi chưa hề biết mặt anh tôi thì làm sao từ được.

Không lay chuyển được hai mẹ con tôi, chúng phải thả về, nhưng sau đó tiếp tục nhiều cách hành hạ mẹ con tôi bằng các hình phạt theo luật 10/59.

Phong trào cách mạng ở nông thôn lúc này cũng gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều cán bộ nằm vùng hy sinh, cơ sở mất liên lạc. Tôi cùng nhiều anh em trong làng tìm mọi cách liên lạc để nối lại các hoạt động cho đến lúc Mặt trận Dân tộc giải phóng ra đời. Chúng tôi được học tập Nghị quyết 15, bắt tay xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành diệt ác, phá kềm, tổ chức nhiều trận tập kích đánh địch ngay trong ấp chiến lược. Trận đánh hiệu quả nhất làm cho địch run sợ là đánh vào Hội đồng xã Thanh Trường cạnh đình Thanh Quýt năm 1962. Anh em đã làm chủ tình hình trong đêm chúng tổ chức phân công rào ấp chiến lược cho 62 liên gia trong xã, biến thành cuộc mít tinh của cách mạng, trấn áp lực lượng của địch và thu 2 súng các-bin, dụng cụ y tế cùng toàn bộ tài liệu quan trọng của Hội đồng xã Thanh Trường. Trận thắng này được Quân Khu 5 khen thưởng và chúng tôi (tôi, anh Kiềm, anh Ninh) được huyện ủy Điện Bàn kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng. Anh Hồng Thắng, Phó Bí thư Huyện ủy là người trực tiếp làm lễ kết nạp trong căn buồng tối của nhà chị Bốn Tảo. Anh Quốc, Bí thư Huyện ủy nói nhỏ với anh Hồng Thắng rọi đèn pin lên tường để chúng tôi nhìn thấy là cờ Đảng 2 màu xanh đỏ. Mấy câu thơ tôi thuộc đã lâu nhưng không nhớ tác giả, lúc đó hiện lên:

Có một ngày ta nóng lòng chờ đợi
Đã trở thành bất diệt với ta
Dưới mái chòi lợp rạ
Hơi ấm chan hòa
Ta đứng lên lòng run nước mắt trào ra
Không ngớt
Đưa cao nắm tay gân guốc
Lần đầu tiên ta đứng trước đảng kỳ
Nghẹn trong lời và tim óc khắc ghi
Nguyện dâng hiến cuộc đời cho đảng

Chi bộ đảng đầu tiên tại Thanh Quýt trong chiến tranh chống Mỹ được thành lập sau đó. Chị Bốn Tảo, một đảng viên cũ thời chống Pháp làm bí thư. Chi bộ tiếp tục phát triển thêm các anh Trí, Sửu, Lất. Thường vụ Huyện ủy chỉ định tôi làm Bí thư Chi bộ đông Thanh Quýt. Như vậy từ năm 1963, Thanh Quýt có 2 chi bộ độc lập. Sau đó không lâu, do yêu cầu công tác, tôi được phân công phụ trách thêm việc phát triển cơ sở ở nội thành Đà Nẵng.

KỲ 3: TỪ NHÀ LAO VĨNH ĐIỆN ĐẾN KHÁM LỚN CHÍ HÒA

Tháng 2 – 1966, ông Nguyễn Hữu Bì cùng 260 người tù bị kẻ thù đưa ra lưu đày tại Côn Đảo. Tính đến khi được trao trả theo Hiệp định Pari vào tháng 3 – 1973, ông Bì đã trải qua 7 năm tranh đấu ở địa ngục trần gian…

Tháng 9.1963, cơ sở trong ấp chiến lược bị lộ, địch bao vây. Tôi đang chạy máy nước tưới lúa ngoài ruộng nên thoát được. Suốt 5 ngày đêm chúng lùng sục khắp 2 xã Thanh Trường và Thanh Thủy, ban đêm huy động dân dùng đèn gió và mõ truy đuổi. Tôi nằm giữa ruộng, đói rã rời, phải ăn cả đòng đòng lúa và dọc sắn (củ sắn non) để lấy sức vượt ấp chiến lược. Xóm làng náo động. Cuối cùng tôi cũng thoát ra và về được đến đơn vị 43 (mật danh của căn cứ huyện Điện Bàn). Tại đây, trong lúc đang học tập tài liệu “5 bước công tác” thì có lệnh điều về tỉnh để bổ sung cho Tp.Đà Nẵng. Lúc đó Đà Nẵng có bí số là 43 và chưa có thành ủy mà mới có Ban Cán sự do anh Đà làm bí thư và các anh Hưng, anh Nghĩa trong Ban Cán sự. Tôi được phân công làm Đội trưởng Đội công tác nội thành, có nhiệm vụ xâm nhập thành phố, bắt liên lạc và tổ chức cơ sở, đưa thanh niên thành phố về căn cứ huấn luyện để thành lập lực lượng vũ trang thành phố.

Tháng 4 – 1964, trên đường công tác tổ chức trạm tại Điện Hòa, tôi bị địch vây bắt do bị chỉ điểm. Bị đưa về nhà lao Vĩnh Điện, nơi từng giam giữ cha và hai anh tôi trước đây. Mặt trận chiến đấu mới là chống khai báo, không làm lộ cơ sở được tôi xác định rõ. Công tác của tôi quan hệ với rất nhiều cơ sở của Điện Bàn, Hòa Vang và Đà Nẵng và nhất là ở quê Thanh Quýt, nên bị lộ là rất nguy hiểm. Chúng tập trung mọi thủ đoạn tàn bạo và nham hiểm nhất để mong tôi khai ra. Một trong những thủ đoạn độc ác là nhốt vào thùng phuy để đánh. Tiếng đánh vào vỏ thùng phuy liên tục đã khiến tai tôi bị thủng màng nhĩ, máu rỉ ra liên tục. Sau 27 ngày đòn roi liên tục, mình mẩy tôi nát như tương. Tôi cương quyết chịu đựng, không một lời khai báo, chỉ một mực: mình trốn quân dịch, không biết gì cả. Sau đó chúng đưa tôi vào Ty Công an rồi lao xá Hội An. Được anh em trong tù cứu chữa, cơ sở và gia đình nhắn tin vào động viên. Sau đó tôi tham gia sinh hoạt tại Chi bộ Hoàng Văn Thụ trong nhà lao do anh Thống làm Bí thư.

Tháng 9 – 1965, tôi cùng nhiều anh em khác bị đưa ra nhà lao Thừa Phủ ở Huế. Tại đây, chúng tôi cùng anh em tù phòng H. lao Thừa Phủ đã tổ chức chống chào cờ; 15 người được chúng ghép thêm tội cầm đầu đã bị chuyển qua giam cấm cố tại Ty công an Huế cho đến ngày chúng đưa 5 người, trong đó có tôi ra tòa áo đỏ (tức tòa đại hình). Tại tòa, 5 anh em chúng tôi lại hô khẩu hiệu “đả đảo tòa tay sai” gây hoảng hốt cả phiên tòa. Chúng tôi lại bị còng và đẩy lên xe về nhốt cấm cố trong xà lim với các bản án cho người ít nhất là 5 năm, cao nhất là 20 năm. Tôi bị án 10 năm khổ sai. Tháng 10 – 1965, chúng chuyển chúng tôi gồm 120 người vào kho đạn Đà Nẵng, một tháng sau lại chuyển tiếp vào khám lớn Chí Hòa bằng tàu thủy.

Ở ô C.4 Chí Hòa là phòng giam những tù nhân chống chào cờ gồm nhiều quê quán ở Bắc, Trung, Nam. Nhiều người từ Côn Đảo chuyển về như các anh Ba Lê, Đỗ Hằng, Hoàng Chí Khương… Nhưng phần lớn các tù nhân chính trị vào Chí Hòa là để chờ hoàn tất thủ tục đày ra Côn Đảo. Phòng “Điện ảnh” là nơi các tù chính trị nhận chịu nhiều đòn tra tấn dã man nhất ở nhà lao này. Địch còng chúng tôi vào một phòng rồi dùng dòng điện cực mạnh làm cho ta không chịu nổi. Điện giật làm nhiều người chết đi sống lại nhiều lần. Lúc gần đến Tết âm lịch năm đó, nhân dịp các cai ngục nới lỏng đàn áp, chúng tôi đã nổi dậy đấu tranh đòi cải thiện sự đối xử, thực hiện các quyền dân sinh khác và để anh em đón Tết cổ truyền. Chúng dồn chúng tôi lại chung vào ô C.4 để cùng nhận quà do bà con ngoài phố gửi vào, trong đó có cả những món tiền bà con chuẩn bị cho anh em ra đảo.

Trong lúc ở Chí Hòa, tôi có một kỷ niệm đẹp và cảm động. Đó là lần được thăm nuôi đầy bất ngờ vì không thể biết ai vào thăm mình. Khi được gọi tên ra phòng đợi và có tiếng chuông rung tôi cứ lững thững đi sau, vừa đi vừa quan sát ai thăm. Khi các bàn thăm nuôi đã có đầy đủ các tù nhân và người thân ngồi đối diện nhau, thì chỉ có một mình tôi… dư ra. Bên phía người đi thăm cũng thừa ra… một cô gái đang đứng lóng ngóng. Cô đưa tay về phía tôi và nói to: “Em đây! Em đây anh Bì!”. Khi chúng tôi ngồi vào bàn, cô gái mới cho biết việc cô đi thăm tôi là do một người bạn tù cùng phòng đã ra đảo trong chuyến trước nhờ cậy. Anh ta dặn em gái: “Hãy tìm cách vô thăm ảnh và mấy anh em người miền Trung. Mình ở Sài Gòn được thăm nuôi, chứ anh em ngoài ấy không có người thân buồn lắm!”. Việc cô vào thăm cũng đâu phải là chuyện dễ dàng. Phải làm đơn mang đến cho bọn xã ấp xác nhận. Lại đi thăm tù là người không cùng gia đình, là tù cộng sản lại càng khó hơn vì phải lo lót rất tốn kém. Lần cô gái em người bạn tù vào thăm ấy trở thành nguồn động viên rất lớn trong những ngày còn lại của một người tù khổ sai xa xứ như tôi…

Trong khám lớn Chí Hòa, chúng tôi còn có một kỷ niệm khó quên khác. Đó là chuyện “bắt dế” và “mổ heo”. Mỗi sáng chúng tôi phải thay nhau đi đổ rác. Đó là dịp để nhặt nhạnh từng mẩu thuốc lá người ta hút còn lại và vứt đi. Mỗi mẩu thuốc tàn đó gọi lá “dế”. Dế nhặt được bỏ vào một cái lon gọi là “con heo”. Chừng mười ngày nhặt nhạnh và gom lại như vậy mới đầy lon. Chúng tôi bắt đầu “mổ heo”, trộn các loại thuốc tàn lại rồi chia cho anh em cùng hút cho đỡ thèm. Việc này có khi bị anh em phản đối vì cho rằng nó làm mất uy tín, thể diện của người cách mạng. Nhưng cũng có ý kiến ngược lại: Ta thiếu thì ta nhặt, hút để tăng sự tỉnh táo và có sức chiến đấu với giặc. Thế là anh em lại tiếp tục bắt “dế” và “làm heo”…

Sau những ngày đón tết ở Chí Hòa, chúng tôi triển khai kế hoạch học Điều lệ Đảng do anh Ba Lê từ Côn Đảo về soạn. Chúng tôi còn thảo luận và trao đổi kinh nghiệm chống ly khai của trại 1 cũng như tình hình Côn Đảo. Lúc đó, địch chia tù chính trị ở Côn Đảo thành hai trại. Trại 1 nhốt tù không án, gọi là “câu lưu”, trại 2 dành cho tù khổ sai. Trại 1 vào lúc cao điểm năm 1957 nổi lên chiến dịch chống ly khai khá quyết liệt. Trong “chiến dịch Mai Hữu Xuân”, chúng phân trại 1 làm hai phần, bên chống ly khai gọi là “Địa ngục”, bên chịu ly khai gọi là “Thiên đàng”. Trong thời gian này, anh em hy sinh nhiều vô kể vì chống ly khai. Chỉ còn 5 người sống sót được anh em tù Côn Đảo tặng danh hiệu là “5 ngôi sao sáng”.

Năm 1964 còn có một cuộc tuyệt thực qui mô lớn của anh em tù chính trị buộc địch phải nhượng bộ, chúng không đàn áp những người chống ly khai nữa mà chuyển sang chiến thuật buộc anh em phải chào cờ 3 que. Bên tù có án còn ít kinh nghiệm nên chiến dịch đấu tranh chống chào cờ nhiều đợt chưa thành công. Địch càng ra sức dập tắt cuộc đấu tranh này bằng mọi cách. Nhiều anh em (như Xinh, Đô…) hy sinh, số còn lại bị tra tấn và bệnh đến kiệt sức buộc chúng phải chuyển đi cấp cứu.

KỲ 4: BẢY NĂM Ở ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Tháng 2 – 1966, ông Nguyễn Hữu Bì cùng 260 người tù bị kẻ thù đưa ra lưu đày tại Côn Đảo. Tính đến khi được trao trả theo Hiệp định Pari vào tháng 3 – 1973, ông Bì đã trải qua 7 năm tranh đấu ở địa ngục trần gian…

Chiều 24-2-1966 từ nhà lao Chí Hòa chúng tôi đã bị đưa đi lưu đày Côn Đảo trên chuyến tàu thủy đầu năm âm lịch. Tàu rời bến Bạch Đằng lúc 17 giờ 30. Tất cả 260 anh em tù từ nhiều địa phương cùng đi chung chuyến đó. Nhưng đông nhất vẫn là những người ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Bến Tre, Quảng Ngãi. Chúng còng tay hai người một lại với nhau bằng còng số 8 và bắt ngồi từng nhóm một dưới hầm tàu tối. Lợi dụng cơ hội này, anh em bắt đầu thảo luận phương thức chống chào cờ để bảo vệ khí tiết cách mạng khi lên đảo. Xác định đây là trận chiến đấu ác liệt nhất sắp tới ở “địa ngục trần gian” Côn Sơn. Nội dung chống chào cờ đã được anh em thảo luận suốt đêm và tựu trung có 3 luồng ý kiến. Nhóm 1: quyết chống, dù phải hy sinh. Nhóm 2: ảnh hưởng tư tưởng từ phòng 2 câu lưu Chí Hòa đề nghị nên hòa hoãn để bảo vệ lực lượng chờ thời cơ. (Thực ra đó chỉ là cái cớ, chứ hòa hoãn có nghĩa là phải chào cờ địch, hô khẩu hiệu của địch!). Nhóm 3 là những người không có ý kiến. Cho đến khi tàu có tín hiệu cập bến Côn Đảo, do không còn thời gian thảo luận, chúng tôi đã đi đến kết luận: Chống chào cờ để bảo vệ khí tiết cách mạng là nhiệm vụ hàng đầu trên đảo, anh em nào xác định được thì chống, anh em nào chưa thông thì chưa chống, không áp đặt kiểu đa số áp đảo thiểu số…

Chúng tôi vừa bước lên cầu tàu Côn Đảo, bọn trật cự và cai ngục đã đứng dọc hai bên, dùng gậy đánh tới tấp vào tù nhân. Đánh từ cầu tàu cho đến khi vào tới phòng 6 trại 2. Chúng vừa đánh vừa hô “Côn Sơn đi dễ khó về…”. Ở phòng 6 một ngày, anh em được đưa phân tán đi các nơi. Riêng 95 anh em chúng tôi tuyên bố chống chào cờ bị giữ lại. Chúng phân nhóm từ 5 đến 10 người lần lượt đưa đến Ban An ninh, bắt đầu đàn áp ráo riết bằng đủ thứ khí cụ. Mười ngày sau, chúng tôi chỉ còn lại 25 anh em, chúng còng lại và nhốt chồng chất lên nhau ở hầm 16 trại 2. Đứa nào cũng quần áo tả tơi, thịt da bầm nát, máu me bê bết. Những ngày nắng ở Côn Đảo thời tiết nóng bức khắc nghiệt, chúng dùng vôi hòa với nước tiểu người, rải vào hầm giam. Ban đêm, bọn trật tự thay nhau đánh đập không cho chúng tôi ngủ. Hôm sau lại đưa An ninh vào đàn áp tiếp. Mỗi buổi chiều, các phòng giam đều bị khóa chặt cửa và chúng lôi các tù nhân ở các hầm bằng các móc sắt tròng vào hai gót chân để kéo lên đặt nằm ở cái nền lát đá trước miệng hầm. Vừa lôi vừa đánh đập dã man. Chỉ một tháng sau, con số còn lại chỉ là 5 anh em. Chúng lại nhốt chúng tôi vào 3 hầm nhỏ, còng tréo chân nhau và đưa bọn “chiêu hồi”, bọn cải huấn xuống dùng chiến thuật dụ dỗ. Chịu đựng đòn roi, cực hình đã khó, nhưng chiến thắng được những lời dụ dỗ lại càng khó gấp nhiều lần vì tư tưởng dễ dao động. Nếu đấu tranh mạnh chúng lại đàn áp mạnh hơn. Nói không khéo thì mất uy thế chính trị. Do vậy cần phải tỉnh táo để tìm cách đối phó. Có lần tay cải huấn xuống mở cửa hầm đưa 5 anh em chúng tôi ra. Nó hỏi:

– Bọn bay chống chào cờ và quốc ca quốc gia, nhưng bay có thuộc quốc ca của cộng sản không?

5 anh em chúng tôi cùng trả lời:

– Biết!

– Biết thì hát nghe thử coi!, nó lại nói.

Trong lúc dường như có người định hát, thì anh Phan Đình Tựu nói để ngăn lại:

– Quốc ca là thiêng liêng của một nước, khi cất lời hát quốc ca mọi người phải đứng nghiêm. Nếu ông đứng nghiêm thì tôi sẽ hát!

Chúng bí thế lại giở đòn đánh chúng tôi. Nhưng có đứa ngăn lại nên phải bỏ đi.

Nhiều lần bọn cai ngục đưa một tên tự xưng là “Lê Dụ, Xứ ủy Nam Kỳ” đến gặp chúng tôi. Tên này bắt đầu tuyên truyền, nhưng nói mãi mà anh em chúng tôi chẳng thèm trả lời. Cuối cùng nó bảo:

– Tụi bay dốt lại còn dại dột nên mới chịu đòn. Chết ở đây chẳng ai biết. Mà nếu sống trở về thì chỉ làm khổ vợ con. Mấy thằng giỏi như tao sau về còn được ưu đãi vì có trình độ…

Rồi nó chuyển sang chuyện Tàu:

– Tụi bay không biết chứ ngày xưa ông Hàn Tín dù có luồn trôn giữa chợ thì cũng làm Tề Vương…

Đến đó thì tôi tức không chịu được, bèn nói:

– Hàn Tín rồi cũng chết vì tay mấy mụ đàn bà.

Nghe vậy, thằng “xứ ủy” này xấu hổ bỏ đi.

Một lần khác, tay thư ký chiến dịch Phượng Hoàng đến hầm chúng tôi vào lúc gần tối. Cửa hầm vừa mở, hắn đã giở trò:

– Anh Bì! Anh có phải là đảng viên cộng sản không?

Trước câu hỏi quá đột ngột này, tôi giả vờ lết thật chậm để suy nghĩ cách đối phó. Nếu xác nhận là đảng viên thì coi như mình bắt đầu khai những gì mình đã chối kể từ khi bị bắt. Còn không thì chúng sẽ coi như mình sợ.

– Trả lời đi chứ anh Bì! Nếu sợ thì làm sao giữ được chính nghĩa!, hắn hỏi bồi, thúc giục.

Tôi lấy lại tư thế, bình tĩnh đáp:

– Thưa trung tá, mục đích chiến đấu của tôi là để thở thành đảng viên cộng sản, nhưng hiện nay tôi chưa có vinh dự đó nên còn phải phấn đấu…

– Vậy à! Nếu anh là đảng viên thì tôi muốn hỏi anh vài điều…

Anh em chung quanh tôi ai nấy đều lo lắng trước cái bẫy của tay sĩ quan Phượng Hoàng đang giăng ra. Tôi bình tĩnh nói:

– Tôi chưa được vinh dự là đảng viên nhưng tôi chiến đấu cho lý tưởng cộng sản. Nếu trung tá hỏi tôi sẽ trả lời trong tư cách đó, nhưng chỉ sợ không thỏa mãn ý muốn của ông thôi!

Tên trung tá biết không khai thác được gì nên bỏ đi và không quên dặn tên  trưởng trại đưa thêm thuốc sát trùng vào xử lý các vết thương để tránh nhiễm trùng cho chúng tôi, một cách lừa bịp mà bọn này vẫn hay làm.

Ở Côn Đảo, nhiều lần chúng tôi cũng đã tiếp xúc với bọn chúa đảo. Từ năm 1968 trở đi, phong trào ở đất liền ngày càng hoạt động mạnh đã tạo ra nhiều thuận lợi cho tù Côn Đảo. Tàu đưa tù chính trị ra đảo liên tục giúp cho lực lượng đấu tranh ở Côn Đảo tăng lên, buộc chúng phải tập trung đối phó, đàn áp tù nhân ở các trại khác. Nhờ vậy, chúng tôi có thời gian củng cố tinh thần. Chúng tôi cũng biết số anh em ra đảo đợt hồi 1965 còn lại vẫn ở hầm đá nhưng không có cách nào liên hệ được. Cứ mỗi chiều gần tối lại nghe tiếng gõ tường từ hầm bên cạnh vọng sang, nhưng không biết người ta muốn nói chuyện gì. Anh em lại tập trung nghiên cứu để giải mã bằng cách đếm những tiếng gõ ấy và ráp lại. Cuối cùng chúng tôi hiểu những tiếng gõ ấy có nghĩa là “Ai đó?”. Bằng cách này, chúng tôi liên lạc được với nhau và biết được số anh em cùng ra một đợt hồi tháng 6- 1965 nay còn lại 7 người là các anh: Phạm Thông (người Huế), Nguyễn Tám (Điện Bàn, sau đó hy sinh), Nguyễn Ngọc Nuôi (Điện Bàn), Nguyễn Văn Kỳ (Điện Bàn), Nguyễn Văn Thắng (Đại Lộc), Tào Tựu (Duy Xuyên) và Hồ Dân Tiên (Điện Bàn).Số còn lại của đợt ra hồi tháng 2-1966 với tôi là 5 người, gồm: Phan Đình Tựu (Điện Bàn, hy sinh năm 1968 ở chuồng cọp) Huỳnh Đây (Tam Kỳ), Nguyễn Thí (Quế Sơn), Nguyễn Tử Tòng (Bình Định, tra tấn phát điên) và tôi. Sự hy sinh của các anh chống đối trong nhiều các đợt khác đã góp phần tạo ra thành quả và thúc đẩy phong trào phát triển. Đến năm 1968, lực lượng chống đối trong tù Côn Đảo ngày càng đông hơn. Tất cả đã bị dồn xuống chuồng cọp 2 và tiếp tục bị đàn áp khốc liệt. 27 anh em tham gia tuyệt thực đến ngày thứ 15 thì kiệt sức. Bọn cai ngục dùng âm mưu phân tán ra nhiều nơi để hòng làm giảm sức đấu tranh của anh em. Tôi bị nhốt ở khu chuồng bò (lần 1 năm 1968, lần 2 nhốt từ năm 1970-1972). Cả anh Phấn và anh Tựu đều đã hy sinh ở chuồng bò và chuồng cọp (năm 1968).

Sau vụ anh Huỳnh Tấn Mẫm về đất liền tố cáo, Hội Bảo vệ tù nhân đã ra trực tiếp các chuồng cọp, chuồng bò Côn Đảo, nên buộc chúng phải đưa số anh em bại liệt chúng tôi về Chí Hòa rồi Tân Hiệp. Trong buổi lễ chịu tang Bác Hồ năm 1969 ở nhà lao Tân Hiệp, anh Mãi hy sinh trong đợt này, chúng lại đày tiếp chúng tôi ra Côn Đảo nhốt ở nhà dù, nhưng sau đó lại đưa lên chuồng bò. Chúng tôi lại tiếp tục cuộc đấu tranh đòi cải thiện dân sinh, dân chủ, buộc bọn cai ngục phải cho ra tắm nắng, được đi xin rau tươi… Lúc bấy giờ, Côn Đảo lên kế hoạch xây dựng thêm chuồng cọp mới gọi là trại 7 để phân tán tù thành án từ chuồng bò ra trại 7, chúng tôi lại tiếp tục đấu tranh chống lại kế hoạch “trại 7”.

Phong trào đấu tranh của tù thành án chống chào cờ, chống nội qui nhà lao, đòi cải thiện dân sinh dân chủ ngày càng đạt hiệu quả. Ở chuồng bò có 3 khu A, B và C. Khu A và C phòng nhỏ nhốt từ 7 đến 8 người mỗi phòng. Riêng khu B nhốt chúng tôi, phòng chia ra nhiều hộc và có cái cửa sắt chắc chắn được mở vô trong. Để chống phân tán, chúng tôi chuẩn bị bằng cách nhặt dây điện thoại xoi tường nối từ khu này qua khu khác rồi mắc điện vào để đánh Morse liên lạc với nhau, lên kế hoạch phối hợp đấu tranh. Tháng 10-1972, 2 khu A và C vì phòng nhỏ nên bị đàn áp và phân tán dễ dàng. Riêng khu B đông người, chống đối quyết liệt nên chúng phải đưa lực lượng “xung kích” đến. Chúng tôi dùng dụng cụ đã chuẩn bị trước neo, chèn cửa từ bên trong không cho chúng vào. Từ sáng đến trưa không vô được, chúng phải huy động thêm lực lượng từ đội Bảo an và trật tự đến dày đặc phía ngoài. Lựu đạn cay, lựu đạn khói ném vào cũng không lay chuyển. Chúng tôi dùng vải xé từ áo quần ra gói cơm mẽ nhét mũi, người khỏe bảo vệ người yếu. Cuộc đấu tranh giằng co kéo dài, tiếng la hét náo động cả Côn Đảo. Anh em tù ở các trại lân cận cũng kêu la, tố cáo, đả đảo bọn cai ngục đàn áp tù nhân cho đến chiều tối. Sau đó, chúng buộc phải dùng súng bắn lựu đạn cay, trái cháy xối xả vào khu A. Hơi nóng và khói cay mù mịt, nóng rực làm anh em ngất xỉu hết. Lúc đó chúng mới phá được cửa phòng, khiêng chúng tôi ra xe đưa về chuồng cọp và nhốt chúng tôi riêng mỗi người một phòng. Tiếng hô la của các trại khác vẫn tiếp tục diễn ra suốt đêm hôm đó trong lúc chúng tôi nằm liệt suốt hai ngày mới tỉnh lại.

Khi tỉnh lại, chúng xuống yêu cầu cử đại diện đến Ban chúa đảo gặp chuẩn tướng từ đất liền ra để giải quyết các yêu sách. Chúng tôi cử anh Trọng đi gặp và đề nghị chúng chữa bệnh, trả lại quần áo, cải thiện đời sống. Nhờ vậy, từ đó chúng tôi được yên ổn, tổ chức học tập chính trị, ổn định tư tưởng và cải thiện được sức khỏe. Chúng còn để mặc chúng tôi ca hát tự do, không còng chân và mỗi ngày đều được ra ngoài tắm nắng…

KỲ CUỐI: NỖI ĐAU NGÀY TRỞ VỀ

Trên khuôn mặt ông Bì, cả những lúc cười, vẫn phảng phất một nỗi buồn vì những người thân đã hy sinh không tìm được xác. Nhưng đôi mắt, tuy thị lực đã yếu, vẫn luôn lóe lên những ánh nhìn đầy yêu thương của một con người từng bao lần chết đi sống lại và đã được nhân dân, đồng đội cưu mang…

Chiều 30 Tết âm lịch năm 1973 chúng tôi không chịu vào phòng. Yêu cầu được ở ngoài đến mồng 3 để đón Tết cổ truyền. Chúng tôi tổ chức ca hát, diễn kịch. Tất cả đều được bọn cai ngục để yên. Lúc này Côn Đảo đã có mối liên lạc với đất liền nên anh em biết được diễn biến của hội đàm ở Pari, việc Mỹ ném bom 12 ngày đêm ở Hà Nội và các chiến thắng liên tục trên chiến trường miền Nam. Một buổi chiều, chúng tôi nhận được tin Hiệp định hòa bình đã được ký kết ở Pari và sẽ có việc trao trả tù binh. Chúng tôi cũng biết thêm số tù binh được chúng trao trả sẽ là những thường phạm hoặc số đã đầu hàng trong tù. Số bại liệt ở chuồng cọp sẽ được phân tán trước khi Hội Bảo vệ tù nhân ra Côn Đảo. Cũng có âm mưu thủ tiêu một số tù khổ sai chống đối đang bại liệt vì tra tấn để phi tang!

Tôi nhớ vào sau những ngày tết năm đó, lúc khoảng 16 giờ 30, sau khi cơm nước xong, các hầm chuồng cọp đã đóng cửa hết, chỉ còn vài anh em đi lại được đang dọn vệ sinh bên ngoài… anh Tuấn gõ cửa phòng tôi đưa vào cục gạch và giao tôi viết thông báo về kết quả ký Hiệp định hòa bình Pari, chính xác cả ngày giờ. “Bì ơi! Các anh bảo mày viết thông báo cho anh em biết”, Tuấn dặn. Sau khi biết đó là những thông tin chắc chắn do các tù chính trị cấp trên giao, tôi run run cầm viên gạch viết, đọc to lên 3 lần và yêu cầu anh em khu C thông báo tiếp cho các khu khác biết. Anh em các khu đang ca hát, khi nghe thông báo tin vui đã im bặt. Tin lan từ tù nhân phòng này sang phòng khác, trại này sang trại khác một cách nhanh chóng. Nhiều anh em bị bệnh tim mạch xúc động quá đã ngất xỉu và phải đưa đi cấp cứu. Tên trật tự viên Tám Kính đạp phòng tôi hỏi lớn: “Ai nói mày hòa bình?”. Tôi từ tốn: “Thì anh Tám nói đó. “Hòa bình” là nguyện vọng của toàn dân, gia đình vợ con, người thân của anh cũng đều ao ước vậy! Chúng mình dù sao cũng đều là tù nhân, sao anh lại không vui?”. Nghe vậy, nó chùng giọng xuống, hỏi tôi:

– Tù như bọn tôi có được về không? Người ta sẽ đối xử với tôi ra sao?…

Tôi trấn an nó:

– Tất nhiên là sẽ về đoàn tụ thôi…

Tháng 3 – 1973, chúng tôi lại được phân tán một lần nữa và được cho biết là sẽ đưa về đất liền trao trả theo Hiệp định Pari.

Tôi đi chuyến máy bay thứ 3 cất cánh từ Côn Đảo chở theo 18 anh em tù khổ sai về thẳng Đà Nẵng và tiếp tục bị giam tại nhà lao “Ty Gia Long” (Ty Cảnh sát chế độ cũ trên đường Gia Long – Đà Nẵng, nay là đường Lý Tự Trọng). Không ai nói gì với chúng tôi sau đó. Tôi yêu cầu được gặp người có trách nhiệm để hỏi chuyện. Mười ngày sau khi về “Ty Gia Long”, tay thiếu tá Cảnh sát trưởng Đà Nẵng mới xuất hiện. Chúng tôi nêu ý kiến phải được trao trả theo hiệp định hòa bình. Tay thiếu tá này bảo:

– Hiệp định ký không nói rõ ranh giới nên chúng tôi sẽ thả các anh ra và muốn đi đâu thì đi!

Chúng tôi lại được phân tán nhỏ ra một lần nữa trước khi đưa lên xe chở đi. Có mấy người được thả xuống dọc đường quốc lộ khu vực huyện Hòa Vang. Tôi và 3 người nữa người Điện Bàn được thả xuống bên quốc lộ gần đồn Ngũ Giáp lúc chạng vạng tối. Ba người kia vừa xuống xe đã được một chiếc xe đò bốc lên chở đi. Các em học sinh trong làng và bà con nhận ra tôi đã khiêng lên chiếc xe bò kéo về xóm, giao cho cơ sở cách mạng chăm sóc.

Quê nhà tan tác trong cuộc chiến, gia đình nào cũng ly tán. Nhà tôi đã bị đốt cháy. Về đây trong cảnh bại liệt nhưng tôi dần nghe được những tin tức xé lòng. Anh Hai Thông tôi từ miền Bắc về đã hy sinh năm 1968, em Lành bị bắt đày đi Quảng Trị, vượt ngục về đi bộ đội đã hy sinh năm 1965. Em Kháng bị bắt lưu đày 4 năm ở nhà lao Thủ Đức. Em Xẩm bị giam ở lao Kho Đạn (Đà Nẵng), khi ra hoạt động cũng vừa hy sinh năm ngoái. Hai đứa con chị Bốn Mỳ đi bộ đội đều hy sinh. Chú Trấu, em Thanh, anh Trật đã hy sinh hết. Bạn bè, đồng chí không còn mấy người. Vợ đã có con với người ta. Mẹ tôi bị con Chua chiêu hồi chỉ điểm đã bị bắt giam cầm và tra tấn dã man. Có lúc vì quá thèm miếng trầu, mẹ phải bứt cọng chiếu manh để nhai cho qua cơn. Khi ra tù, bệnh tật vẫn đeo bám, con cái chẳng còn ai, mẹ phải rời quê đi tá túc nhà người cậu ruột ở tận Lâm Đồng để có miếng ăn và chạy chữa thuốc thang. Quê hương và cả gia đình tan tác bên dòng sông Thanh Quýt xanh trong ngày tôi thoát khỏi 9 năm lưu lạc khắp các nhà tù ở miền Nam với bao nhiêu cực hình tra tấn…

Về nằm tại nhà cơ sở nhưng ngay đêm đầu tiên đã bị địch truy lùng gắt gao. Nếu không được cơ sở bảo vệ, có lẽ tôi đã lại bị bắt và bị thủ tiêu rồi. Bảy năm bại liệt ở các chuồng bò, chuồng cọp Côn Đảo, giờ phải lo chữa trị, tập đi lại từng bước một. Càng nóng ruột tập nhanh thì chân cẳng lại sưng to. Phải kiên trì từng bước một cách hết sức khó khăn. Trước sự truy lùng của địch, để bảo vệ an toàn, cơ sở đã bí mật đưa tôi ra Mân Thái (Đà Nẵng) để chữa trị tại nhà một thầy thuốc là cơ sở nội thành. Sau khi có thể đi lại được chút ít, tôi được đưa ra vùng giải phóng, tiếp tục điều trị và sau đó trở về công tác tại Thanh Quýt cho đến ngày giải phóng 1975. Khi đất nước im tiếng súng, mẹ tôi mới trở về gặp lại đứa con trai duy nhất còn sống sót sau cuộc chiến.

Những năm đầu sau ngày hòa bình còn quá khó khăn, cũng như bao nhiêu người, mẹ con chỉ ăn toàn bo bo và sắn lát. Bệnh mẹ lại trở nặng và bà đã vĩnh viễn ra đi vào năm 1984. Trước khi mất, mẹ gượng nói với tôi một câu:
– Vậy là công mẹ cũng không uổng!

Rồi mắt mẹ từ từ khép lại.

Mẹ tôi ra đi vĩnh viễn khi đất nước bắt đầu có những đổi thay.

Nỗi đau mất mẹ tuy không trầy da rách thịt nhưng sao tôi cảm thấy là đau hơn cả những ngày ở chuồng cọp, chuồng bò ở địa ngục trần gian ngoài Côn Đảo.

Thay lời kết:

Tôi gặp ông Bì từ sau ngày giải phóng, khi ông còn làm Chủ tịch UBND xã, rồi Bí thư Đảng ủy. Từ lúc ông nghỉ hưu đến nay, dù sức khỏe yếu, ông vẫn được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội Khuyến học xã và tham gia nhiều hoạt động văn hóa ở địa phương. Thỉnh thoảng vẫn làm thơ mà ông từng được học trong tù. Trên khuôn mặt ông, cả những lúc cười, vẫn phảng phất một nỗi buồn vì những người thân đã hy sinh không tìm được xác. Nhưng đôi mắt, tuy thị lực đã yếu, vẫn luôn lóe lên những ánh nhìn đầy yêu thương của một con người từng bao lần chết đi sống lại và đã được nhân dân, đồng đội cưu mang…


TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG, ghi