Trang chủ > bài viết > Vài suy nghĩ về cấp bậc, phẩm hàm của ngài tiền hiền Nguyễn Hữu Dõng

Vài suy nghĩ về cấp bậc, phẩm hàm của ngài tiền hiền Nguyễn Hữu Dõng

01/11/2010

1. Đặt vấn đề

a. Về cách xưng danh cấp bậc và tước vị

Trong các tài liệu viết về cấp bậc và tước vị của ngài tiền hiền Nguyễn Hữu Dõng,  chúng tôi nhận thấy hiện nay có nhiều cách ghi về cách xưng danh

. Cách ghi thứ 1: “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân, cẩm y vệ, đô chỉ huy sứ, ty đô chỉ huy sứ, cai phủ phó tướng ngự lộc hầu Nguyễn Hữu Dõng”

. Cách ghi thứ 2: “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân cẩm y vệ, đô chỉ huy sứ, ty đô chỉ huy sứ, cai phủ phó tướng ngự lộc hầu Nguyễn Hữu Dõng”

. Cách ghi thứ 3: “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân, cẩm y vệ đô chỉ huy sứ ty đô chỉ huy sứ, cai phủ phó tướng, tước ngự lộc hầu Nguyễn Hữu Dõng”. Cách ghi thứ 3 này do nhà sử học Nguyễn Vinh Phúc thể hiện trong các bài viết về ngài Tiền Hiền chúng ta

Do chữ Hán không có dấu chấm câu nên khi dịch từ chữ Hán sang chữ  Quốc ngữ ta thường đặt thêm dấu chấm câu, tuy nhiên đặt dấu chấm câu như thế nào để thể hiện đúng cấp bậc, tước vị của ngài là điều cần phải nghiên cứu

b. Phẩm hàm của ngài Tiền Hiền

Theo ông Nguyễn Hữu Thanh Bình trong bài “Làng Kiệt Đặt cổ xưa gắn liền với lịch sử tộc Nguyễn Hữu” được đăng trên tập san của gia tộc Nguyễn Hữu cho rằng ngài Tiền Hiền là quan tam phẩm

Nhà sử học Nguyễn Vinh Phúc trong các bài báo: “Người xứ Quảng, gốc xứ Đông”đăng trên báo nhân dân, “ Một vị tướng xứ Đông góp phần mở mang đất Quảng Nam” đăng trên báo Quân đội Nhân dân ngày 21/10/2006 cũng cho rằng ngài Tiền Hiền được phong ở hàm Tam phẩm

Tuy nhiên theo tìm hiểu của chúng tôi, được biết ngài Tiền Hiền chúng ta ở hàm chánh nhất phẩm.

Vậy nhất phẩm hay tam phẩm. Cơ sở nào cho rằng ngài tiền hiền là quan nhất phẩm? Xin được làm rõ ở các phần tiếp sau

2. Các tài liệu tham khảo

Để con cháu sau này hiểu biết và tự hào hơn về ngài Tiền Hiền, chúng ta cần làm rõ để biết thêm về những cấp bậc, tước vị, phẩm hàm mà ngài được vinh phong.

Để sáng tỏ những vấn đề nêu trên,  chúng tôi đã dựa trên các tài liệu như:

- Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục là bộ chính sử do Quốc Sử Quán triều Nguyễn soạn thảo

Đại Việt sử ký toàn thư : Cuốn sách được Ngô Sĩ Liên, một nhà sử học thời Lê Thánh Tông viết với sự tham khảo và sao chép lại một phần từ các cuốn Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu thời nhà Trần và Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên(thời nhà Lê nhưng trước Ngô Sĩ Liên) và được các nhà sử học khác như Vũ Quỳnh, Lê Tung, Phạm Công Trứ, Lê Hy v.v.. hiệu chỉnh và bổ sung thêm sau này. Tên gọi chính thức của cuốn sách này do Ngô Sĩ Liên đặt.

- Một số tài liệu khác được tra tìm trên internet …

3. Những luận cứ để làm rõ một số cấp bậc, phẩm hàm của ngài Tiền hiền

Thông thường người xưa khi xưng danh (và kể cả ngày nay cũng vậy)  thì xưng danh cấp bậc lớn trước và cấp bậc nhỏ sau. Nay lần lược phân tích các cấp bậc của cụ tiền hiền cũng theo thứ tự lớn trước nhỏ sau.

a. Trước tiên tìm hiểu “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân” là gì?

Đầu tiên chúng ta cần làm rõ từ “đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân” hay “đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân”: Thực ra hai từ này chính là một, chẳng qua là khi từ chữ Hán khi phiên qua chữ Quốc ngữ thì mỗi miền phát âm và viết thành từ khác nhau. Qua tra cứu tôi nhận thấy ở phia Nam thì dung từ “ đặc tấn”, phía Bắc thì dung từ “đặc tiến” (vd: Ở phía Nam: Tiền hiền của tộc Phan Bảo An- Quảng Nam- được phong Đặc Tấn Phụ Quốc Thượng Tướng Quân(1) hoặc như tại tỉnh Thừa Thiên-Huế có miếu thờ Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân Trần Quý Công (2)…; Ở phía Bắc: Tộc Vũ ở Hải Phòng, cụ tiền hiền được vinh thăng Đặc Tiến Phụ quốc Thượng tướng quân (3) …)

- Phẩm hàm ở triều Lê Thánh Tông được phân định như thế nào:

Phẩm hay còn gọi là phẩm hàm thường được dùng để ban tước vị cho các quan lại.

Hệ thống quan phong kiến Việt Nam thường được chia làm hai ban văn – võ, được gọi là văn giai và võ giai. năm 1471, vua Lê Thánh Tôn ấn định cửu phẩm. Theo thứ tự cao thấp từ nhất phẩm đến cửu phẩm, cuối cùng là hạng vị nhập lưu (chưa được liệt vào hạng nào cả).

Trong mỗi phẩm hàm lại chia thành hai cấp bậc: Chánh (chính) và Tòng (phó). Như vậy hệ thống quan chế gồm tất cả 18 cấp bậc từ cao tới thấp: Chánh nhất phẩm, tòng nhất phẩm; chánh nhị phẩm,tòng nhị phẩm; chánh tam phẩm, tòng tam phẩm; chánh tứ phẩm, tòng tứ phẩm; chánh ngũ phẩm,tòng ngũ phẩm; chánh lục phẩm,tòng lục phẩm ; chánh thất phẩm,tòng thất phẩm; chánh bát phẩm, tòng bát phẩm; chánh cửu phẩm, tòng cửu phẩm .Trong mỗi cấp bậc đều có hai ban văn, võ. (4)

Cửu phẩm là loại tước vị cơ bản ,thường được dùng để ban cho quan lại, không chỉ ở triều đình mà còn ở các địa phương,làng xã. Quan thường được ban phẩm,nhưng cũng có một số quan không được ban phẩm. Ngược lại một số người không phải là quan nhưng có công ,đức cao vẫn được vua ban phẩm. Ngoài ra Vua có quy chế về việc phong thuỵ hiệu cho các giai phẩm khác nhau. Mỗi phẩm khi chết sẽ được ban thuỵ hiệu. Từ Chánh lục phẩm trở xuống có chữ “Sắc thụ”, từ Tòng ngũ phẩm trở lên có chữ “Cáo thụ”. Cáo thụ được sắc phong kèm theo bài chế cáo, có trục cuộn tờ sắc.Ở Việt Nam chính quyền trung ương mạnh,nên các tước vị không được cha truyền con nối.Khi người được ban phạm lỗi lầm thì có thể bị xóa hoặc hủy bỏ t.ước vị.

- “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân” là gì?

. Theo “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” – Chính biên, quyển XXII, trang 530- dưới thời vua Lê Thánh Tông, quan tước như sau:

Trích lược: “….Quan tước về văn giai và võ giai:

Thái sư + Thái úy + Thái bảo đều hàm chánh nhất phẩm.

Những người giữ chức quan này về văn giai thì thăng thụ là đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, gia thụ là đặc tiến khai phủ kim tử vinh lộc đại phu; về võ giai thì thăng thụ là đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, gia thụ là khai quốc thượng tướng quân.”

. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” – bản kỷ, quyển XX, trang 473- nêu “…Tản quan bên văn, từ chánh nhất phẩm sơ thụ Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, cho đến chánh cửu phẩm sơ thụ tướng sĩ thứ lang, gồm 9 phảm, đều có chánh, tòng. Tản quan bên võ từ chánh nhất phẩm sơ thụ Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân đến tòng lục phẩm sơ thụ Quả cảm tướng quân, gồm 6 phẩm đều có chánh, tòng…”

Luận bàn: . Từ việc ngài tiền hiền của chúng ta được thăng thụ là đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân, căn cứ vào tài liệu trên ta có thể xác định ngài ở hàm chánh nhất phẩm, ngang với chức Thái Úy hoặc Thái Bảo ( không phải là hàng tam phẩm)

. Triều vua Lê Thánh Tông (như đã nêu trên) có 9 phẩm hàm (cửu phẩm) nhưng chia ra thành 18 cấp bậc ( chánh và tòng). Vậy khi nói ngài Tiền Hiền là quan Tam phẩm (không nêu là chánh tam phẩm hay tòng tam phẩm) thì chưa đúng cả về cấp bậc của phẩm hàm và cả về việc phiên giữa chức vị được thăng thụ với phẩm hàm.

. Cụm từ được vinh thăng “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân” là một cụm từ độc lập, không thể ghép với cụm từ “cẩm y vệ” được; cần phải tách 2 cụm từ này riêng ra và cụm từ “cẩm y vệ“ phải gắn với cụm từ nào đó, không thể đứng độc lập được vì cẩm y vệ là 1 tổ chức chứ không phải là 1 chức vụ (Ngay phần tiếp theo tôi sẽ nói kỹ hơn về trường hợp này)

b. Đô chỉ huy sứ là gì? Thuộc hàm gì?

- Sơ lược về tổ chức quân sự thời vua Lê Thánh Tông:

Theo “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, sách “góp phần tìm về cội nguồn dòng tộc” của Phan Bá Lương và theo Website http://lichsuvn.info/index.php/Tu-lieu/An-chuong-Viet-Nam_Phan-thu-nhat.html thì tổ chức quân sự thời vua Lê Thánh Tông như sau:

Quân đội toàn quốc được đặt dưới quyền thống lĩnh của 5 phủ là Trung quân phủ, Đông quân phủ, Tây quân phủ, Nam quân phủ và Bắc quân phủ. Tổng tư lệnh quân đội là Thái úy nhưng trực tiếp chỉ huy là chức Tả, Hữu Đô đốc Ngũ phủ. Mỗi phủ đặt 6 Vệ, một Vệ có 5 hoặc 6 Sở, mỗi Sở có 400 quân chia làm nhiều Ngũ. Mỗi Phủ đặt chức Tả, Hữu Đô đốc, Đô đốc Đồng tri và Đô đốc Thiêm sự. Cấp Vệ đặt chức Tổng tri, Đồng Tổng tri và Thiêm Tổng tri. Cấp Sở đặt chức Quản lãnh, Chánh Võ úy và Phó Võ úy. Mỗi Ngũ đặt một chức Tổng kỳ. Quân ngũ ở Kinh sư được chia làm nhiều Vệ, mỗi Vệ lại có khoảng 5 Sở hoặc Ty, dưới cấp Sở, Ty là Đội. Trong đó có các Vệ chính là Cẩm Y, Kim Ngô, Điện Tiền và Kim Quan lực sĩ mà các vệ dưới có biên chế quân ngũ theo. Ví dụ như Cẩm Y vệ có 4 vệ Thuần tượng là Tiền vệ, Tả vệ, Hữu vệ và Hậu vệ; mỗi Vệ này quản 5 Sở. Ngoài ra Cẩm Y vệ còn có một vệ Mã Nhàn chỉ huy 5 Sở nữa. Mỗi một Sở đều có tên riêng như Hậu vệ có 5 sở là Tựu Lăng, Cầm Chí, Thành Nhạc, Cảng Hà và Bào Lâm.

Sơ đồ tổ chức quân đội như sau:

+ Quân ngũ tại Kinh sư:

Đứng đầu Vệ  là: Đô chỉ huy sứ, Đô chỉ huy đổng tri, Đô chỉ huy thiêm sự

Đứng đầu Ty (hoặc Sở) là: Chỉ huy sứ, chỉ huy đổng tri, chỉ huy thiêm sự

+ Quân ngũ tại các đạo:

Quân phủ : Đứng đầu là Tả Hữu Đô đốc, Đô đốc đồng tri, Đô Đốc thiêm sự

Đô Ty : Đứng đầu là Đô tổng binh sứ, Tổng binh đồng tri, Tổng binh thiêm sự

Vệ: Đứng đầu làTổng tri, Đồng tổng tri, Thiêm tổng tri

Sở : Đứng đầu là Quản lãnh, Phó Quản lãnh, Chánh Võ úy, phó Võ úy

Luận bàn:

. Ngài tiền hiền chúng ta là Đô chỉ huy sứ, đứng đầu của lực lượng Cẩm y vệ, thường được gọi là “cẩm y vệ đô chỉ huy sứ”. Cẩm y vệ là một tổ chức của quân đội, không phải là một tước vị hoặc cấp bậc. Chính vì lý do đó nên nếu để cụm từ mà ta hay thường viết “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân, cẩm y vệ, đô chỉ huy sứ” thì dễ gây hiểu lầm đây là 3 chức vụ  khác nhau, do vậy nên tôi đề nghị viết lại là “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân, cẩm y vệ đô chỉ huy sứ”;Bởi viết theo lối trước đây dễ bị nhầm lẫn Cẩm y vệ là một chức vụ.

. Vua Lê Thánh Tông lập ra Vệ Kim Ngô và Vệ Cẩm Y để bảo vệ Cấm thành. Trong việc bảo vệ Cấm thành, các triều Vua Chúa ngày xưa thường dùng người trong Hoàng Tộc hoặc được Vua đặc biệt tín nhiệm, tin dùng vì có nhiều công lao to lớn. Ngài Tiền Hiền được là người đứng đầu của Cẩm y vệ, điều này chứng tỏ ngài Tiền Hiền là người được vua Lê Thành Tông đặc biệt tín nhiệm.

- Đô chỉ huy sứ được phong phẩm hàm nào?

Theo “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”  – Chính biên, quyển XXII, trang 530-  dưới thời vua Lê Thánh Tông, quan tước như sau:

Trích lược: “ ….Tông nhân phủ tông nhân lệnh + Lăng chánh + Đô đài ngự sử + Tả hữu thứ tử + Đô chỉ huy sứ + Đô tổng binh sứ + Tuyên uý đại sứ đềuhàm chánh tam phẩm.

Những người giữ chức quan này, về văn giai thì sơ thụ là thông chương đại phu, thăng thụ là thông lễ đại phu, gia thụ là thông nghị đại phu; về võ giai, sơ thụ là anh liệt tướng quân, thăng thụ là anh túc tướng quân, gia thụ là anh vĩ tướng quân.”

Luận bàn: Như vậy với cấp bậc “Đô chỉ huy sứ”, thống lĩnh đội “Cẩm y vệ”, ngài tiền hiền được đứng ở hàng đại phu, hàm chánh tam phẩm trước khi được vinh thăng hàng nhất phẩm (như đã nêu ở phần trước)

c. Ty đô chỉ huy sứ là gì?

Đối với chức vụ này, mặc dù đã đọc nhiều tài liệu và tra cứu trên internet rất nhiều nhưng tôi vẫn chưa tìm ra lời giải thích thỏa đáng. Tôi xin trình bày nhận định của cá nhân như sau:

Giả thiết 1:

- Nếu lý luận về cách xưng danh như tôi đã nêu ở phần trước là đúng (cấp bậc được xưng danh từ cao đến thấp) thì “Ty đô chỉ huy sứ” là cấp thấp hơn “đô chỉ huy sứ”

- Theo tổ chức quân ngũ tại kinh sư thì dưới Vệ (như Cẩm y vệ), có tổ chức Ty (hoặc Sở). Vậy có phải Ty đô chỉ huy sứ là người đứng đầu của 1 ty không? Điều này cần xin được luận bàn thêm.( đứng đầu 1 ty, nếu như trong các tài liệu thì là “Chỉ huy sứ”, không có từ “đô chỉ huy sứ”)

- Nếu giả thiết này đúng thì có thể luận như sau: Ngài Tiền hiền ban đầu lãnh đạo 1 ty (thuộc Vệ), sau đó được vinh thăng lên đứng đầu 1 Vệ (Cẩm y vệ đô chỉ huy sứ) và sau đó được thăng thụ “đặc tấn phụ quốc Thượng tướng quân”.

Giả thiết 2:

Theo tài liệu “góp phần tìm về cội nguồn dòng tộc” của ông Phan Bá Lương thì triều Hậu Lê không có chức “Ty đô chỉ huy sứ”. Mãi sau này Triều Nguyễn mới có chức “Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ Ty Đô Chỉ huy sứ”

Theo các tài liệu còn để lại, tại làng Thanh Quýt vào năm Bính Dần (1807) do hỏa hoạn nên các sắc phong thời Triều Lê được lưu giữ đã bị cháy và đợi đến Duy Tân tam niên, triều đình nhà Nguyễn căn cứ vào tấu từ của Quảng Nam dinh trấn mà tái sắc phong Tiền hiền cho các tộc ở Thanh Quýt. Vậy có thể khi triều Nguyễn tái sắc phong, có thể triều Nguyễn đã căn cứ vào các chức vụ đương thời của Triều Nguyễn nên mới có chức “Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ Ty Đô Chỉ huy sứ”

Luận bàn:

. Nếu theo giả thiết 1 thì cách ghi sẽ là:      “Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ, Ty Đô Chỉ huy sứ”

. . Nếu theo giả thiết 2 thì cách ghi sẽ là:    “Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ Ty Đô Chỉ huy sứ”

4. Về tước của ngài Tiền Hiền

a. Hệ thống tước vị thời Hậu Lê

Theo “Khâm định Việt sử Thông giám cương mục” hệ thống tên tước dưới đời hậu Lê được vua Lê Thánh Tông ấn định rất rõ rệt, gồm 6 bậc: vương, công, hầu, bá, tử, nam . (Theo http://www.hcmc-museum.edu.vn thì 6 bậc này được chia thành 2 loại: Tôn tước và huân tước. Tôn tước – Tước Vương – chỉ phong cho những người trong hòang tộc. Huân tước là tước ban cho hoàng tộc và các công thần, bao gồm: Công tước, Hầu tước, bá tước, tử tước, nam tước)

Tước Vương: Dành cho Hoàng tử. Cách đặt tước Vương là lấy tên phủ làm tên hiệu kèm theo chữ Vương. Ví dụ Kiến Hưng Vương. Con của hoàng tử cũng được tước Vương nhưng lấy tên huyện kèm theo chữ Vương như Hải Lăng Vương. Tước Vương bao gồm:

. Thân vương: Hoàng tử được phong là thân vương thì dùng tên một phủ làm tên hiệu.

. Tự thân vương: Thế tử của thân vương được phong là tự thân vương thì dùng tên một huyện làm tên hiệu.

Tước Công: Dành cho các con hoàng thái tử và thân vương. Tước Công gồm một mỹ tự và từ ngữ Công như Triệu Khang Công. Tước Công bao gồm:

. Quốc công: tước quận công cũng theo lệ 2 chữ quý hơn 3 chữ. Tước này ít khi phong ra ngoài mà chỉ trong hoàng tộc hay những người có binh quyền lớn hoặc thế tử ở phủ chúa. Ví dụ như chúa Trịnh Sâm lúc chết cũng chỉ là tước công 2 chữ, sau rồi mới thuỵ phong lên tước vương.

. Quận công: đây là tước phong cho những người có binh quyền và công lao lớn. Ví dụ như chúa Nguyễn Hoàng đến khi vào trấn thủ Quảng bình cũng chỉ là Đoan quận công, sau này được phong lên Đoan quốc công (trước khi chia nước tự lập).

Tước Hầu: Dành cho con trưởng của tự thân vương hay thân công được phong. Tước hầu gồm một mỹ tự và từ ngữ Hầu như: Vĩnh Kiến Hầu.

Tước Bá: Dành cho các hoàng thái tôn, các con của tự thân vương, tự thân công, con trưởng của thân công chúa. Tước Bá gồm một mỹ tự và chữ Bá. Ví dụ Tĩnh Cung Bá.

Tước Tử Thuộc hàng chánh nhất phẩm, dành cho các con thứ của thân công chúa, con trưởng tước hầu, tước bá. Tước tử gồm một mỹ từ và chữ Tử. Ví dụ Kiến Xương Tử.

Tước Nam: Được coi như hàng tòng nhất phẩm, dành cho con trưởng của thân công chúa được truy tặng, con thứ của tước hầu, tước bá. Tước Nam gồm một mỹ từ và chữ Nam. Ví dụ Quảng Trạch Nam.

Để định vị trí cao thấp của hệ thống tên tước, phải căn cứ vào đơn vị tư. Người càng có nhiều tư thì càng có tước cao.

Bảng Phẩm Trật Và Số Tư Dưới Triều Lê Thánh Tông

Quốc công : 24 tư

Quận công : 23 tư

Hầu tước : 22 tư

Bá tước : 21 tư

Tử tước : 20 tư

Nam tước : 19 tư

Nhất phẩm/ Hàng chánh: 18 tư/ Hàng tùng : 17 tư

Nhị phẩm/ Hàng chánh: 16 tư/ Hàng tùng : 15 tư

Tam phẩm/ Hàng chánh : 14 tư/ Hàng tùng : 13 tư

Tứ phẩm/ Hàng chánh : 12 tư/ Hàng tùng : 11 tư

Ngũ phẩm/ Hàng chánh : 10 tư/ Hàng tùng : 9 tư

Lục phẩm/ Hàng chánh : 8 tư/ Hàng tùng : 7 tư

Thất phẩm/ Hàng chánh : 6tư/ Hàng tùng : 5 tư

Bát phẩm/ Hàng chánh : 4 tư/ Hàng tùng : 3 tư

Cửu phẩm/ Hàng chánh : 2 tư/ Hàng tùng : 1 tư

Luận bàn:

. Với tước Hầu (Ngự Lộc Hầu), ngài Tiền Hiền được phong tước thứ 2 trong cấp Huân tước (Chỉ sau tước)

. Với tước “Ngự lộc hầu”, ngài Tiền Hiền được 24 tư, trong khi đó chánh nhất phẩm là 18 tư, vậy ngài Tiền Hiền sau khi được vinh thăng “Ngự lộc hầu” thì ở trên hàm chánh nhất phẩm.

. Như vậy ngài Tiền Hiền không thể xếp hàng Tam phẩm được vì khi được vin thăng, cả chức vị và tước vị đều ở hàng nhất phẩm ( Chức vị “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân”, tước vị “ Ngự lộc hầu”)

b. Cách xưng danh tước và tên húy

Khi xưng danh, thông thường tước vị được gọi gắn liền với tên húy, như: Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản,  Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn …

Ngài Tiền Hiền được phong tước “Ngự lộc hầu”. Còn “Cai phủ phó tướng” là 1 chức. Vậy không thể ghi vừa chức và tước gắn liền với nhau vào 1 cụm từ “Cai phủ phó tướng ngự lộc hầu Nguyễn Hữu Dõng” mà cần phải tách cụm từ này thành 2 cụm từ riêng biệt: “Cai phủ phó tướng” và “Ngự lộc hầu” trong đó giữa chức và tước cần cách nhau bởi 1 dấu phảy, được viết như sau: “Cai phủ phó tướng, ngự lộc hầu Nguyễn Hữu Dõng”

5. Kết luận vấn đề

Như vậy như trình bày ở phần đầu thì ngài Tiền Hiền Nguyễn Hữu Dõng có cấp bậc, tước vị và phẩm hàm như sau:

- Cấp bậc: Cẩm y vệ đô chỉ huy sứ, ty đô chỉ huy sứ, cai phủ phó tướng

- Tước: Ngự lộc Hầu

- Thăng thụ: Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân

- Hàm: Từ hàm chánh tam phẩm (đô chỉ huy sứ) thăng lên hàm nhất phẩm (Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân) và thăng lên trên hàm nhất phẩm (Ngự lộc Hầu)

Từ đó chúng tôi đề nghị cần viết lại như sau:

- Hoặc viết “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân, cẩm y vệ đô chỉ huy sứ, ty đô chỉ huy sứ, cai phủ phó tướng, tước ngự lộc hầu Nguyễn Hữu Dõng”

- Hoặc viết: “Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân, cẩm y vệ đô chỉ huy sứ ty đô chỉ huy sứ, cai phủ phó tướng, tước ngự lộc hầu Nguyễn Hữu Dõng” ( Như cách viết của nhà sử học Nguyễn Vinh Phúc)

Lời kết:

Là một người con của tộc Nguyễn Hữu, tôi cố gắng nghiên cứu về những cấp bậc, tước vị, phẩm hàm của ngài Tiền Hiền Nguyễn Hữu Dõng.

Do kiến thức còn nông cạn và hạn chế về tài liệu tham khảo, mặc khác không tránh khỏi những nhận định chủ quan nên những nhận định của tôi có thể chưa làm thoả mãn người đọc

Tôi hy vọng rằng những nhận định của tôi – có thể chưa đúng – gợi lên vấn đề mà tộc ta cần tổ chức hội thảo để làm sáng tỏ thêm

About these ads
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.